Danh mục: NGỮ VĂN

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Hà Nam 2021

    [ad_1]

     Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời
    gian giao đề)

    PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

    Đọc đoạn trích:

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến.

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.

     (Sách giáo khoa Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.56)

    Thực hiện các yêu cầu sau:

    Câu 1. Đoạn trích trên thuộc văn bản nào? Tác giả là ai?
    Nêu hoàn cảnh sáng tác của văn bản.

    Câu 2. Trong đoạn trích, những hình ảnh nào thể hiện
    ước nguyện của nhà thơ?

    Câu 3.
    Chỉ ra và nêu hiệu quả của một biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Câu 4. Thông điệp nào trong đoạn
    trích có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao? Trình bày bằng một
    đoạn
    văn khoảng 5-7 dòng.

    PHẦN II. LÀM VĂN (7,0
    điểm)

    Câu 1. (2,0
    điểm
    )

    Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết
    một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa sự cống hiến.

    Câu 2. (5,0
    điểm
    )

    Cảm nhận của em về
    nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện
    người con gái Nam Xương
    (trích Truyền
    kì mạn lục
    ) của Nguyễn Dữ. Từ đó,
    hãy nhận xét về tình cảm của nhà văn dành
    cho nhân vật.

    — HẾT—

     

    Đề thi vào 10 môn Ngữ văn Hà Nam 2021HƯỚNG DẪN
    CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

    A. HƯỚNG DẪN
    CHUNG.

    – Cán bộ chấm thi cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn
    chấm và đáp án – thang điểm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh. Trong
    quá trình chấm, cán bộ chấm thi tránh đếm ý cho điểm, khuyến khích những bài
    viết có cảm xúc và sáng tạo.

    – Bài thi được chấm theo thang điểm 10; làm tròn theo
    quy tắc đến 0,25 điểm.

    B. HƯỚNG DẪN
    CỤ THỂ VÀ BIỂU ĐIỂM

    Phần

    Câu

    Nội dung

    Điểm

    I

    ĐỌC
    HIỂU

    3,0

    1

    Đoạn trích trên thuộc văn bản Mùa xuân
    nho nhỏ

    – Tác giả Thanh Hải.

    Hoàn cảnh sáng tác của văn bản: sáng tác
    năm 1980, không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời.

    0,25

    0,25

    0,25

    2

    – Trong đoạn trích
    những hình ảnh thể hiện ước nguyện của nhà thơ: con chim hót, cành hoa, nốt
    trầm xao xuyến, mùa xuân nho nhỏ.

    (Thí sinh chỉ trả lời
    đúng 01 hình ảnh: không cho điểm; trả lời đúng 02 hình ảnh: cho 0,25 điểm; trả
    lời đúng từ 03 hình ảnh trở lên: cho 0,5 điểm).

    0,5

    3

    Thí sinh chỉ ra một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ. Có thể
    tham khảo:

    + Liệt kê: con
    chim, cành hoa

    + Ẩn dụ: con
    chim, cành hoa

    + Phép điệp (điệp từ
    ta, điệp ngữ ta làm, điệp cấu trúc Ta
    làm
    …)

    Hiệu quả:

    + Làm cho câu thơ
    giàu sức gợi, biểu cảm; giàu nhịp điệu.

    + Thể hiện, nhấn mạnh
    khát vọng được sống có ích, được cống hiến những gì tốt đẹp nhất của cuộc đời
    mình cho cuộc đời chung.

    0,25

     

     

     

     

    0,25

    0,25

    4

    – Về hình thức: Đoạn văn khoảng 5-7 dòng, diễn đạt
    lưu loát, mạch lạc
    . 

    – Về nội dung:

    + Thí sinh rút ra một thông điệp trong đoạn trích có ý nghĩa nhất
    đối với mình. Có thể tham khảo một trong các thông điệp sau:

    ++ Sống cống hiến, hi sinh.

    ++ Sống khiêm nhường, bình dị…

    + Lí giải hợp lí, thuyết phục, không vi
    phạm chuẩn mực đạo đức, pháp luật.

    (Trường hợp học
    sinh lí giải thiếu thuyết phục: cho 0,25 điểm; trường hợp học sinh đưa ra những
    lí giải không thuyết phục, vi phạm chuẩn mực đạo đức, pháp luật: không cho điểm)

    0,25

     

    0,25

     

     

     

    0,5

    II.

    LÀM VĂN

    7,0

    1

    Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, viết một
    đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa
    sự cống hiến.

    2,0

    a. Đảm bảo
    hình thức của đoạn văn nghị luận.

    0,25

    b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa sự cống hiến.

    0,25

    c. Triển khai vấn đề nghị luận:

    Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng phải làm rõ được
    vấn đề cần nghị luận. Dưới đây là một hướng giải quyết:

    * Giải thích:

    – Cống hiến là tự nguyện đem sức lực, tài năng, trí
    tuệ, đóng góp những gì tốt đẹp nhất của bản thân vì lợi ích cao đẹp của tập
    thể, cộng đồng.

    * Bàn luận:

    Khẳng định cống hiến có ý nghĩa, giá trị lớn lao:

    + Là phẩm chất tốt đẹp, là một trong những chuẩn mực đánh giá nhân
    cách, sự trưởng thành của mỗi người.

    + Tạo nên những thành quả, những giá trị có ý nghĩa
    cho cuộc đời.

    + Người biết cống hiến được mọi người yêu mến, cảm
    phục; tâm hồn thanh thản; cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp…

    + Lan tỏa giá trị của sự cống hiến làm cho xã hội
    phát triển, văn minh.

    (Thí sinh lấy dẫn chứng thực tế để
    chứng minh)

    Phê phán những biểu hiện sống ích kỉ, chỉ mưu cầu
    lợi ích cá nhân, quên đi trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng…

    * Bài học nhận thức và hành động: nhận thức đúng đắn ý nghĩa sự cống hiến, có những hành động
    thiết thực thể hiện sự cống hiến.

    1,0

    d. Chính
    tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
    (không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính
    tả, ngữ pháp)
    .

    0,25

    e. Sáng tạo:
    Thể hiện hiểu hiết sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, liên
    hệ sâu sắc
    (thể hiện suy nghĩ sâu sắc
    hoặc biết phản biện hoặc có cách diễn đạt mới mẻ, giàu cảm xúc).

    0,25

    Thang điểm:
    Đối với yêu cầu c

    – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng;
    dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng
    (1,0 điểm).

    – Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ
    xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (0,5-0,75
    điểm).


    Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên
    quan mật thiết với vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không
    phù hợp (0,25 điểm).

     

    2

    Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác
    phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
    (Trích Truyền kì mạn lục) của Nguyễn
    Dữ. Từ đó, hãy nhận xét tình cảm của nhà văn dành cho nhân vật.

    5,0

    a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài khái quát được vấn
    đề cần nghị luận, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài đánh giá được vấn
    đề.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề: Cảm nhận về nhân vật Vũ
    Nương trong tác phẩm Chuyện người con
    gái Nam Xương
    (Trích Truyền kì mạn
    lục
    ) của Nguyễn Dữ. Nhận xét tình cảm của nhà văn dành cho nhân vật.

    0,25

    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:

    Trên cơ sở hiểu đúng vấn đề, biết cách triển khai
    các ý,
    thí sinh có thể trình bày bài viết theo
    nhiều cách khác nhau, đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

     

    * Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Dữ, tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương, nhân vật Vũ Nương.

    * Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương

     – Vẻ đẹp phẩm chất:

    + Là người phụ nữ có
    dung tốt đẹp
    , đảm đang, tháo vát.

    + Người con dâu hiếu nghĩa; người vợ thủy chung, luôn giữ gìn khuôn phép; người mẹ yêu
    thương con hết mực.

    + Người phụ nữ nặng tình nghĩa, trọng danh dự.

    => Những vẻ đẹp của Vũ Nương tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống
    của người phụ nữ Việt Nam.

    – Số phận, cuộc đời bất hạnh:

    + Nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa: chồng đi lính, một mình
    cáng đáng, lo toan mọi việc (nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng mẹ chồng…).

    + Nạn nhân của chế độ nam quyền: bị chồng nghi oan mà không được
    giãi bày, bị đánh đập, bị đuổi đi; danh dự, nhân phẩm bị chà đạp; phải tìm đến
    cái chết bi thảm để minh oan cho mình nhưng khi được giải oan vẫn không thể
    trở về trần gian.

    – Đánh giá: Vũ Nương là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp
    phẩm chất và số phận bi thảm của những người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ
    phong kiến.

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật:         

    + Đặt nhân vật vào nhiều hoàn cảnh, tình huống khác
    nhau để làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất và số phận bất hạnh.

    + Tâm lí, tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét.

    + Kết hợp ngôn ngữ đối thoại và lời tự bạch của nhân
    vật làm nổi bật tính cách nhân vật.

    + Sử dụng yếu tố kì ảo làm cho nhân vật hiện lên vừa
    chân thực đời thường, vừa mang đặc điểm của nhân vật truyện truyền kì.

    * Nhận xét về tình cảm của nhà văn dành cho nhân
    vật:


    Cảm thông, thương xót trước số phận bất hạnh, cuộc đời đau khổ của Vũ Nương.


    Phát hiện, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của Vũ Nương từ hình thức, phẩm chất đến
    những ước mơ, những khát vọng chân chính.

    =>
    Tình
    cảm của
    nhà văn dành cho Vũ Nương cũng chínhtình cảm mà Nguyễn Dữ muốn gửi gắm tới những
    người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là
    biểu hiện tư tưởng nhân đạo sâu
    sắc
    của nhà văn.

    0,5

     

     

     

    1,0

     

     

     

     

     

     

     

    1,0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0,25

     

    0,5

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0,5

    d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm
    bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt (không cho điểm nếu bài
    làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp)

    0,25

    e. Sáng tạo: Có cách diễn
    đạt mới mẻ, thể hiện sâu sắc vấn đề nghị luận (biết vận dụng kiến thức lí
    luận văn học trong quá trình phân tích đánh giá; biết so sánh với các tác
    phẩm văn học khác để làm nổi bật đóng góp riêng của nhà văn Nguyễn Dữ; văn
    viết giàu hình ảnh, cảm xúc).

    0,25

    Thang điểm:

    – Đối với yêu cầu
    cảm nhận vẻ đẹp phẩm chất; số phận,
    cuộc đời của Vũ Nương:

    + Phân tích chi tiết, triển khai các luận điểm rõ
    ràng, mạch lạc (1,75-2,0 điểm) + Phân tích có định hướng nhưng luận điểm chưa
    rõ ràng hoặc luận điểm rõ ràng nhưng phân tích chưa sâu (1,0-1,5 điểm)

    + Phân tích chung chung không có định hướng
    (0,25-0,75 điểm)

    – Đối với yêu cầu
    cảm nhận nghệ thuật xây dựng nhân
    vật
    :

    + Thí sinh trả lời đúng 02 ý có nhấn mạnh yếu tố kì ảo: cho 0,25
    điểm

    + Thí sinh trả lời đúng từ 03 ý có nhấn mạnh yếu tố kì ảo: cho
    0,5 điểm

     



    [ad_2]

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình Định 2021

    Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình Định 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút (không kể
    thời gian phát đề)

    Phần
    I. (4,0 điểm)

    Đọc
    đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

    Không
    có gì tự đến đâu con.

    Quả
    muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

    Hoa
    sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

    Mùa
    bội thu phải một nắng hai sương,

    Không
    có gì tự đến dẫu bình thường.

    Phải
    bằng cả bàn tay và nghị lực

    Như
    con chim suốt ngày chọn hạt,

    Năm
    tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.

    (Trích Không có gì tự đến đâu con – Nguyễn Đăng
    Tấn,

    Tuyển tập thơ Lời ru vầng trăng, NXB Lao động,
    năm 2020, trang 42)

    Câu 1. Xác
    định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.

    Câu 2. Em
    hiểu thế nào về những câu thơ:

    Quả
    muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

    Hoa
    sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

    Mùa
    bội thu phải một nắng hai sương,

    Câu 3. Chỉ
    ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Như con
    chim suốt ngày chọn hạt.

    Câu 4. Viết
    một đoạn văn trình bày cảm nhậ của em về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua
    đoạn thơ (khoảng 10 – 15 dòng).

    Phần II. (6,0 điểm)

    (…) Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng,
    tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục
    vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Đây là máy móc của cháu. Cái thùng đo mưa này,
    ở đâu bác cũng trông thấy, mưa xong đổ nước ra cái cốc li phân mà đo. Cái này
    là máy nhật quang kí, ánh sáng mặt trời xuyên qua cái kính này, đốt các mảnh giấy
    này, cứ theo mức độ, hình dáng vết cháy vết cháy mà định nắng. Đây là máy vin,
    nhìn khoảng cách giữa các răng cưa mà đoán gió. Ban đêm không nhìn mây, cháu
    nhìn gió lay lá, hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng, có thể nói
    được mây, tính được gió. Cái máy nằm dưới sâu kia là máy đo chấn động vỏ quả
    đất. Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về “nhà” bằng máy bộ đàm: bốn giờ,
    mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là
    “ốp”. Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và
    báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang
    nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn,
    ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió
    tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im
    lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát
    chổi muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại
    hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được.

    (…) Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt,
    nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một
    mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta việc, ta với
    công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền
    với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế
    đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở
    bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự
    nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát.
    Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự
    hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô
    hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hằng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp
    còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái
    phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là
    gì?”

    (Trích Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long,

    Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD Việt Nam, 2018, trang 138, 185)

    Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong phần
    trích trên. Từ đó liên hệ hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế cuộc sống để
    thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam.

    —–HẾT—–

    Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình Định 2021

    HƯỚNG DẪN CHẤM – THANG ĐIỂM

     I. YÊU CẦU
    CHUNG

    1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng;
    kĩ năng làm văn tốt; bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trong sáng,
    giàu hình ảnh và sức gợi cảm, ít mắc lỗi về chính tả và ngữ pháp…

    2. Đáp ứng yêu cầu đổi mới cách thức kiểm tra, đánh
    giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, hướng dẫn chấm thi chỉ nêu
    một số nội dung cơ bản, định tính chứ không định lượng. Giám khảo cần hết sức
    linh hoạt khi vận dụng chấm, không chỉ đánh giá kiến thức và kĩ năng mà còn chú
    ý đến thái độ, cảm xúc, tình cảm của người viết. Cần khuyến khích những tìm
    tòi, sáng tạo trong nội dung và hình thức bài làm. Chấp nhận các kiến giải khác
    nhau, kể cà không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí, có sức thuyết phục.

    3. Tổng điểm của toàn bài là 10,0 điểm, cho lẻ đến
    0,25 điểm. Hướng dẫn chấm cho từng câu, từng ý trên cơ sở đó, giám khảo có thể
    thống nhất định ra các thang điểm cụ thể khác.

    II. YÊU CẦU CỤ THỂ

     

    Câu

    Yêu cầu cần đạt

    Điểm

    PHẦN ĐỌC HIỂU

    4,0

    a

    Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trả lời đúng đáp án: 0,5 điểm

    – HS trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm

    0,5

    b

    Những câu thơ trên có nghĩa là: sự thành công trong
    cuộc đời mỗi người không có gì là dễ dàng cả, cuộc đời luôn tồn tại những khó
    khăn, thử thách, trở ngại, muốn được thành công thì phải vượt qua nó.

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trả lời như đáp án: 0,5 điểm

    – HS trả lời như 1/2 đáp án:
    0,25 điểm

    – HS trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm

    0,5

    c

    Câu thơ: Như con chim suốt ngày chọn hạt

    – Biện pháp tu từ: 
    so sánh

    – Hiệu quả:

    + Tạo cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm

    + So sánh hình ảnh con người với những con chim chăm
    chỉ làm việc cả ngày để nhấn mạnh con người muốn gặt hái thành công thì phải
    nghị lực, sự cố gắng, kiên trì.

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trả lời như đáp án hoặc có cách diễn đạt tương
    tự: 1,0 điểm

    – HS trả lời được nhưng còn thiếu 1 ý so với đáp án:
    0,75 điểm

    – HS trả lời được 1/2 đáp án:
    0,5 điểm

    – HS trả lời sơ sài nhưng có ý và thiếu ý: 0,25 điểm

    1,0

    d

    Thí sinh cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

    Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 15 dòng) trình bày
    cảm nhận về nỗi lòng của cha mẹ dành cho con cái qua đoạn thơ

    2,0

     

    * Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

    Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo kiểu diễn
    dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp, móc xích, song hành

    0,25

     

    * Xác định vấn đề cần nghị luận: Thể hiện
    được cảm nhận chân thành, sấu sắc về nỗi lòng của cha mẹ dành cho con.

    0,25

     

    * Triển khai nghị luận

    Thí sinh có thể lựa chon thao tác lập luận phù hợp
    để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách. Có thể theo hướng sau:

    – Những lời khuyên nhủ, chia sẻ nhẹ nhàng, tình cảm
    của cha mẹ danh cho con

    – Thể nhiện sự quan tâm, yêu thương sâu sắc của cha
    mẹ, sự lo lắng cho con trước những thử thách của cuộc đời.

    – Niềm tin tưởng vào người con sẽ kiên trì đi đến
    mục tiêu cuộc đời.

    Hướng dẫn chấm:

    – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục; lí lẽ xác đáng:
    1,0 điểm

    – Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục; lí lẽ
    xác đáng: 0,75 điểm

    – Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: 0,5
    điểm

    Lưu ý:
    HS có thể bày tỏ cảm nhận và cách lập luận khác nhưng phải phù hợp.

    1,0

     

    * Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả,
    ngữ pháp tiếng Việt

    Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính
    tả, ngữ pháp.

    0,25

     

    * Sáng tạo: Thể hiện cảm nhấn sâu sắc về vấn
    đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

    Hướng dẫn chấm: huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân
    khi bàn luận; có cái nhìn sâu sắc, chân thành về vấn đề; có sáng tạo trong
    diễn đạt, lập luận, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh, đoạn văn giàu
    sức thuyết phục.

    0,25

    PHẦN LÀM VĂN

    6,0

    Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong
    đoạn trích. Từ đó liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế cuộc sống
    để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam

     

    a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài
    nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn
    đề.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảm
    nhận về nhân vật anh thanh niên qua đoạn trích; từ đó liên hệ với hình ảnh
    của thế hệ trẻ trong thực tế cuộc sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt
    Nam.

    0,5

    c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm

    Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng
    cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn
    chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:

     

    * Giới thiểu những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm,
    phần trích

    – Nguyễn Thành Long (1925 – 1991), quê ở Duy Xuyên,
    Quảng Nam, viết văn từ thời kì kháng chiến chống Pháp, là cây bút chuyên viết
    truyện ngắn và kí

    Lặng lẽ Sa Pa sáng tác năm 1970, trong
    chuyến đi thực tế của tác giả ở Lào Cai, in trong tập Giữa trong xanh
    (1972).

    – Giới thiệu phần trích: tác giả xây dựng nhân vật
    anh thanh niên với những vẻ đẹp tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong công
    cuôc xây dựng đất nước.

    0,5

    * Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong phần
    trích:

    – Có ý thức trách nhiệm và tình yêu với công việc:

    + Làm công việc âm thầm, lặng lẽ trong hoàn cảnh
    thời tiết khắc nghiệt nhưng anh luôn tự giác hoàn thành nhiệm vụ với tinh
    thần trách nhiệm cao;

    + Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của công việc: có ích
    cho cuộc đời, cho cuộc sống chung của đất nước, lấy công việc làm niềm vui.

    – Có lí tưởng sống cao đẹp:

    + Phải vì mọi người, vì quê hương, đất nước;

    + Hạnh phúc vì đã có đóng góp, cống hiến sức mình
    cho sự nghiệp chung.

    Hướng dẫn chấm:

    – HS cảm nhận đầy đủ, sâu sắc: 2,0 – 2,5 điểm

    – HS cảm nhận đầy đủ nhưng chưa sâu sắc: 1,0 – 1,75
    điểm

    – HS cảm nhận chung chung, chưa rõ các biểu hiện:
    0,25 – 0,75 điểm

    Lưu ý: Không cho điểm tối đa với những bài làm cảm nhận toàn bộ tác phẩm

    2,5

    * Đánh giá:

    – Vẻ đẹp bình dị mà cao cả, sống có lí tưởng, biết
    hi sinh cho nhân dân, đất nước… anh thanh niên chính là hình ảnh tiêu biểu
    cho thế hệ trẻ Việt Nam những năm 70 của thế kỉ XX – thời kì xây dựng CNXH và
    kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    – Đánh giá về nghệ thuật: ngôn ngữ tự nhiên, sinh
    động, có kết hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận…

    – Liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế
    đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam: thế hệ trẻ với những phẩm
    chất ưu tú, nhiệt tình cống hiến, dấn thân, xây dựng đất nước, bảo vệ quê
    hương…

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trình bày được 3 ý: 1,0 điểm

    – HS trình bày được 2 ý: 0,75 điểm

    – HS trình bày được 1 ý: 0,5 điểm

    1,0

    d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

    Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính
    tả, ngữ pháp.

    0,5

    e. Sáng tạo:
    Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

    Hướng dẫn chấm: HS biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình
    phân tích, đánh giá; biết so sánh với các tác phẩm khác để làm nổi bật nét
    đặc sắc của đoạn trích; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống;
    văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc.

    – Đáp ứng 2 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm

    – Đáp ứng 1 yêu cầu: 0,25

    – Lưu ý: Chi
    cho điểm tối đa khi thí sinh đáp ưng đủ các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng.

    0,5



    [ad_2]

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Quảng Bình 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

    Đọc và bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

    NGƯỜI ĂN XIN

    Một lưới ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt
    ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

    Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu,
    không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi biết chẳng biết làm
    thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:

    – Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả

    Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở như cười:

    – Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão
    rồi.

    Khi ấy tôi chợt hiểu ra cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận
    được một cái gì đó của ôong.

    (Theo Tuốc-ghê-nhép, trích Ngữ Văn 9, tập 1, tr.22,
    NXB Giáo dục, 2010)

    Câu 1 (0,5
    điểm)
    Xác định phương thức biểu đạt
    chính của văn bản.

    Câu 2 (0,5
    điểm)
    Hãy chỉ ra 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.

    Câu 3 (1,0
    điểm)
    Theo em, tại sao không nhận được một xu nào từ nhân vật “tôi” mà ông
    lão vẫn cảm ơn và nói: “Như vậy là cháu đã cho lão rồi”?

    Câu 4 (1,0
    điểm)
    Hãy nhận xét ngắn gọn về nhân
    vật “tôi” trong câu chuyện trên.

    II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

    Câu 1 (2,0 điểm)

    Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn
    (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử với những người bất hạnh.

    Câu 2 (5,0 điểm)

    Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người lính trong đoạn
    thơ sau:

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

    Sốt run người vầng trán tướt mồ hôi.

    Áo anh rách vai

    Quần tôi có vài mảnh vá

    Miệng cười buốt giá

    Chân không giày

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

    Đêm nay rừng hoang sương muối

    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

    Đầu súng trăng treo…

    (Trích Đồng chí, Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập 1, tr.128,
    NXB Giáo dục, 2010)

    —–HẾT—–

    Đáp án thi vào 10 Ngữ văn Quảng Bình 2021


    HƯỚNG DẪN CHẤM

    I. HƯỚNG DẪN
    CHUNG

    – Trên cơ sở các mức điểm đã
    định, giám khảo căn cứ vào nội dung trình bày và kĩ năng diễn đạt của học sinh
    để cho điểm tối đa hoặc thấp hơn.

    – Khuyến khích những bài thể
    hiện sự sáng tạo mà hợp lý trong cảm nhận và lập luận.

    – Điểm toàn bài tính đến 0,25.

    – Phần trong ngoặc […] chỉ mang tính gợi ý.

    II. HƯỚNG
    DẪN CỤ THỂ

    Phần

    Câu

    Nội dung

    Điểm

    I

    1

    Phương thức biểu đạt
    chính là tự sự.

    0,5

    2

    Từ láy: giàn giụa,
    tả tơi, run run, run rẩy, chăm chăm

    0,5

    3

    Bởi vì: Ông lão đã cảm
    nhận được những tình cảm chân thành và sự tôn trọng mà nhân vật “tôi” dành
    cho mình.

    (HS có thể diễn đạt
    khác)

    1.0

    4

    HS có thể có những
    nhận xét khác nhau về nhân vật “tôi” (Là người giàu tình cảm, người tốt bụng,
    người sâu sắc: …).

    1.0

    II

    1

    Từ nội dung phần
    Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ về
    cách ứng xử với những người bất hạnh.

    2.0

    1.1. Đảm bảo yêu
    cầu về hình thức đoạn văn.

    0.25

    1.2. Xác định đúng vấn đề cán nghị luận: cách ứng xử với những người bất hạnh

    0.25

     

    1.3. Triển khai vấn đề cần nghị luận: HS có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách (diễn dịch, quy nạp,
    song hành…); có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề
    nghị luận: cách ứng xử với những người bất hạnh

    [Gợi ý:

     – Người bất
    hạnh là những người chịu nhiều thiệt thòi, thiếu may mắn và không có được hạnh phúc trong cuộc sống.

     – Người bất hạnh thường tự ti, mặc cảm, dễ
    bị tổn thương. Vì vậy, cần ứng xử chân thành, quan tâm và tế nhị trong giao
    tiếp.
    ]

    1.0

     

    1.4. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuân chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

    0.25

     

    1.5. Sáng tạo: Thể
    hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn
    đề nghị luận có cách diễn
    đạt mới mẻ

    0.25

    2

    Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người
    lính trong đoạn thơ

    5,0

    2.1 Đảm bảo cấu trúc
    bài nghị luận:
    Mở bài nêu được vấn đề,
    Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài kết thúc được vấn đề

    0,25

    2.2 Xác định đúng vấn đề
    cần nghị luận:
    Vẻ đẹp của hình ảnh người lính được thể hiện qua
    đoạn thơ.

    0,25

    2.3. Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cân vận dụng tốt
    các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dân chúng; đảm bảo được
    các yêu cầu sau:

    – Có những hiểu biết
    cơ bản về tác giả, tác phẩm.

    – Phân tích đoạn thơ
    để làm nổi bật vẻ đẹp của hình ảnh người |lính:

    + Vẻ đẹp của tỉnh đồng
    chí, đồng đội: sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn về vật chất nhưng
    luôn yêu thương, sẻ chia, đồng cảm, sát cánh bên nhau, sẵn sàng chiến đấu [HS
    phân tích dẫn chứng
    ]

     + Vẻ đẹp của tinh thần lạc quan và tâm hồn
    lãng mạn: trong mọi tình huống đều sống vui vẻ, rộng mở tâm hồn để cảm nhận
    chất thơ của cuộc sống, của thiên nhiên… [HS phân tích dẫn chứng.]

    – Nhận xét được một
    vài nét đặc sắc về nghệ thuật: ngôn ngữ chân thực, giản dị, giàu sức biểu
    cảm, hình ảnh vừa hiện thực, vừa lãng mạn; …

    – Đánh giá được ý
    nghĩa của hình ảnh người lính: người lính mang vẻ đẹp bình dị mà cao cả của
    anh bộ đội cụ Hồ trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vừa mang dấu
    ấn thời đại vừa thể hiện sự sáng tạo của Chính Hữu.

     

     

     

     

    0.5

     

     

    1.25

     

     

     

    1.25

     

     

    0.5

     

     

    0.5

     

    2.4. Chinh tả, ngữ pháp: Đảm
    bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng

    0.25

    2.5. Sáng tạo: Thể hiện suy
    nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

    0.25



    [ad_2]

  • Dàn ý cảm nhận bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

    [ad_1]

    I. Mở bài


    Thanh Hải là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở
    miềm Nam
    từ những ngày đầu. Thơ Thanh Hải có vẻ đẹp bình dị, trong sáng, ngôn ngữ thơ
    giàu hình ảnh, cảm xúc chân thành, đằm thắm.

              – Ra đời vào tháng 11/1980, “Mùa xuân
    nho nhỏ” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác đó. Bài thơ đã ghi lại
    những cảm xúc và nghĩ suy của ông trước mùa xuân thiên nhiên, trước cuộc đời và
    lời tâm niệm về khát vọng sống cống hiến của nhà thơ.

    Cảm nhận Mùa xuân nho nhỏ

    II. Thân bài

       1. Cảm xúc của
    nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên, đất trời.

          – Bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong
    “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải được vẽ bằng những hình ảnh, màu sắc, âm thanh
    hài hòa, sống động, tràn đầy sức sống:

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc

    Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời.

              + Ngay hai
    câu mở đầu ta đã bắt gặp một cách viết khác lạ, động từ “mọc” được đảo lên đầu
    câu thơ nhằm khắc sâu ấn tượng về sức sống trỗi dậy và vươn lên của mùa xuân.

    +
    Bức tranh mùa xuân được xây dựng bằng một hệ thống hình ảnh: dòng sông, bông
    hoa, chim chiền chiện, trời. Đây là những hình ảnh tiêu biểu và rất gợi cảm của
    mùa xuân. Bằng hệ thống hình ảnh này tác giả vẽ ra cả một không gian cao rộng của
    mùa xuân. Từ đó ta thấy rằng hình ảnh được
    lựa chọn gợi lên một mùa xuân tươi đẹp.

    +
    Để tô thêm về ấn tượng về mùa xuân tác giả sử dụng những gam màu tươi tắn. Đó
    là dòng sông xanh, bông hoa tím. Những gam màu hài hòa, tươi sáng, tôn tạo cho
    nhau. Nền xanh làm cho màu tím càng nổi bật.

               +
    Bức tranh không chỉ có họa mà còn có nhạc. Tiếng chim chiền chiện là tín hiệu gợi
    lên một buổi sớm mùa xuân trong trẻo và mát lành. Cũng âm thanh ấy đã vẽ ra được
    không gian bầu trời cao rộng, trong trẻo và ấm áp. Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trong trẻo, ngân nga, rộn
    ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nên náo nức lạ
    thường.

    ->
    Dòng sông êm trôi, bông hoa lững lờ, tiếng chim rộn rã… bức tranh mùa xuân xứ
    Huế bao giờ cũng đẹp, nhẹ nhàng, và mơ mộng như thế!


    Trước vẻ đẹp của mùa xuân, nhà thơ lặng ngắm, lặng nghe bằng cả trái tim xao động,
    bằng trí tưởng tượng, liên tưởng độc đáo:

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng.

    +
    Cụm từ “giọt long lanh” gợi lên những liên tưởng phong phú và đầy thi vị. Nó có
    thể là giọt sương lấp lánh qua kẽ lá trong buổi sớm mùa xuân tươi đẹp, có thể
    là giọt nắng rọi sáng bên thềm, có thể giọt mưa xuân đang rơi… Theo mạch cảm
    xúc của nhà thơ thì có lẽ đây là giọt âm thanh của tiếng chim ngân vang, đọng lại
    thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn
    đang rạo rực tình xuân.

    +
    Cử chỉ “tay tôi hứng” thể hiện sự nâng niu, trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp
    của thiên nhiên, đất trời lúc với xuân với cảm xúc say sưa, xốn xang, rạo rực.
    Nhà thơ như muốn ôm trọn vào lòng tất cả sức sống của mùa xuân, của cuộc đời.

    => Khổ thơ mở đầu đã mở ra một bức
    tranh xứ Huế thật đẹp: có hình ảnh, có màu sắc, âm thanh được họa lên từ những
    vần thơ có nhạc…

     

    2. Cảm xúc của nhà thơ về mùa xuân đất nước

    Mùa
    xuân người cầm súng

    Lộc
    giắt đầy trên lưng

    Mùa
    xuân người ra đồng

    Lộc
    trải dài nương mạ


    Không phải ngẫu nhiên trong khổ thơ lại xuất hiện hình ảnh “người cầm súng” và
    “người ra đồng”. Họ là những con người cụ thể, những con người làm nên lịch sử
    với hai nhiệm vụ cơ bản của đất nước ta trong suốt quá trình phát triển lâu
    dài: chiến đấu và sản xuất, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

              – Mùa xuân không những chắp thêm đôi
    cánh sức mạnh cho con người mà còn chuẩn bị cho con người những “lộc” non tươi
    mới, căng tràn nhựa sống:

    +
    “Lộc” là nhành non chồi biếc của cỏ cây trong mùa xuân. Đối với người chiến sĩ,
    “lộc” là cành lá ngụy trang che mắt quân thù trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
    đầy cam go và ác liệt. Đối với người nông dân “một nắng hai sương”, “lộc” là những
    mầm xuân tươi non trải dài trên ruộng đồng bát ngát, báo hiệu một mùa bội thu.

    +
    “Lộc” không chỉ là hình ảnh tả thực mà con mang ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng. “lộc”
    là sức sống, là tuổi trẻ, sức thanh xuân tươi mới đầy mơ ước, lí tưởng. Và “lộc”
    chính là thành quả hôm nay và niềm tin, hi vọng ngày mai.


    Từ những suy nghĩ rất thực về đất nước, nhà thơ khái quát:

    Tất cả như hồi hả

    Tất cả như xôn xao

    Điệp
    ngữ “tất cả” cùng các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí khẩn
    trương, náo nức của đất nước trong những năm tháng gian lao, hào hùng.  Cách ngắt nhịp 2/1/2 làm cho câu thơ vang lên
    một nhịp điệu tươi vui, mạnh mẽ. Đó là hành khúc mùa xuân của thời đại Hồ Chí
    Minh.


    Xúc cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước khi bước vào mùa xuân, nhà thơ
    Thanh Hải đã có cái nhìn sâu sắc và tự hào về lịch sử bốn nghìn năm dân tộc:

    “Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước”

    +
    Trong bốn nghìn năm đất nước trải qua biết bao thăng trầm. Phải đối đầu với rất
    nhiều kẻ thù hung mạnh. Đó là các triều đại phong kiến Trung Quốc, thực dân
    Pháp, đế quốc Mỹ. Nhưng chúng ta đã vượt qua tất cả bằng xương máu và tính mạng
    của ông cha để đất nước được trường tồn. Chính điều đó đã tạo nên những truyền
    thống thống tốt đẹp cho dân tộc: anh hùng, đoàn kết, nhân ái…

    +
    Đặc biệt, hình ảnh so sánh “đất nước như vì sao” được sử dụng vô cùng đặc sắc.
    Sao là nguồn sáng bất diệt của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm,
    là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế, là tác giả đã ngợi
    ca đất nước trường tồn, tráng lệ, đất nước đang hướng về một tương lai tươi
    sáng.

    +
    Điệp ngữ “đất nước” được nhắc lại hai lần thể hiện sâu sắc ý thơ: trải qua những
    gian truân, vất vả, đất nước vẫn toả sáng đi lên không gì có thể ngăn cản được.

    => Ta cảm nhận được niềm tin tưởng
    của tác giả vào tương lai rạng ngời của dân tộc Việt Nam. Âm thanh mùa xuân đất nước
    vang lên từ chính cuộc sống vất vả, gian lao mà tươi thắm đến vô ngần.

     

    3. Lời ước nguyện chân thành, tha thiết của nhà thơ.

              – Từ những cảm xúc về mùa xuân, tác giả
    đã chuyển mạch thơ một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của
    mình về lẽ sống, về ý nghĩa giá trị của cuộc đời mỗi con người:

    “Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Ta nhập vào hoà ca

    Một nốt trầm xao xuyến”.

    +
    Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha.

    +
    Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống để bày tỏ
    ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm. Còn gì đẹp hơn khi làm một
    cành hoa đem sắc hương tô điểm cho mùa xuân đất mẹ! Còn gì vui hơn khi được làm
    con chim nhỏ cất tiếng hót rộn rã làm vui cho đời!

    + Các hình ảnh bông hoa, tiếng
    chim đã xuất hiện trong cảm xúc của thi nhân về mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, giờ lại được sử dụng để thể hiện lẽ sống của mình.
    Một
    ý nghĩa mới đã mở ra,
    đó mong muốn được sống ích,
    sống
    làm đẹp cho đời lẽ thường tình.

    +
    Hình ảnh “nốt trầm” và lặp lại số từ “một” tác giả cho thấy ước muốn tha thiết,
    chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt trầm”
    nhưng phải là “một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung. Nghĩa là
    nhà thơ muốn đem phần nhỏ bé của riêng mình để góp vào công cuộc đổi mới và đi
    lên của đất nước.

    ->
    Đọc đoạn thơ, ta xúc động trước ước nguyện của nhà thơ xứ Huế và cũng là ước
    nguyện của nhiều người.


    Lẽ sống của Thanh Hải còn được thể hiện trong những vần thơ sâu lắng:

    “Một mùa xuân nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.”

    +
    “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một
    khát vọng sống cao đẹp. Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì
    tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất
    nước.

    +
    Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường,
    lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng
    phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

    + Lời ước nguyện thật thuỷ chung,
    son
    sắt. Sử dụng điệp ngữ “dù là” nhắc lại hai lần như tiếng lòng tự dặn mình đinh ninh: dẫu
    giai đoạn nào của cuộc đời, tuổi hai mươi tràn đầy sức trẻ, hay khi đã già,
    bệnh
    tật thì vẫn phải sống ích cho
    đời, sống làm đẹp
    cho đất nước.

    ->
    Không khoe khoang, cao điệu mà chỉ lặng lẽ âm thầm dâng hiến.Ý thơ thể hiện một
    ước nguyện, một khát vọng, một mục đích sống.

     

    5. Khái quát nghệ
    thuật

    Thể
    thơ năm chữ nhẹ nhàng, thiết tha thể hiện được cảm xúc sâu lắng, mang âm hưởng
    gần gũi với dân ca.

    Kết
    hợp hài hòa giữa những hình ảnh thơ tự nhiên với những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu
    trưng, khái quát.

    Ngôn
    ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh, cảm xúc với các phép ẩn dụ, điệp ngữ,
    so sánh.

     

    III. Kết bài

    Bài
    thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên
    nhiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước, cho cuộc đời.
    Tuy tác phẩm được viết không lâu trước khi nhà thơ qua đi, nhưng bài thơ vẫn để lại trong
    lòng bao thế hệ bạn đọc những cảm xúc sâu lắng, khó
    phai
    mờ.



    [ad_2]

  • Đề Ngữ văn thi vào 10 tỉnh Hà Tĩnh năm học 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    Câu 1 (2,0 điểm)

    Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

    (Tế Hanh, Quê hương, Ngữ văn 8, tập hai, tr.17.
    NXB GDVN, 2015)

    a) Trong
    đoạn thơ, những từ nào thuộc trường từ vựng về biển?

    b) Nêu ngắn
    gọn nội dung của đoạn thơ

    c) Chỉ ra
    một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng
    nhớ/ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
    và phân tích hiệu quả nghệ thuật
    của nó.

    Đáp án Ngữ văn thi vào 10 Hà Tĩnh 2021

    Đáp án đề thi vào 10 môn Ngữ văn Hà Tĩnh 2021

    Câu 2 (3,0 điểm)

    Viết bài văn (khoảng 300 chữ) thể hiện tình cảm của em
    đối với quê hương, đất nước.

    Câu 3 (5,0 điểm)

    Cảm nhận vẻ đẹp của đoạn thơ sau:

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc

    Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng

     

    Mùa xuân người cầm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao…

    (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ,

    Ngữ văn 9, tập hai, tr.55,56, NXB GDVN, 2017)



    [ad_2]

  • Đề và đáp án Ngữ văn thi vào 10 Vĩnh Phúc 2021

    Đề và đáp án Ngữ văn thi vào 10 Vĩnh Phúc 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    I. PHẦN TRẮC
    NGHIỆM (2,0 điểm)

    Đọc đoạn văn
    sau và viết ra tờ giấy thi chữ cái in hoa trước đáp án đúng:

    Chợt ông lão lặng hẳn đi, chân tay nhủn ra, tưởng
    chừng như không cất lên được… Có tiếng nói léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ…
    Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế? Trống ngực ông lão đập thình
    thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…

    (Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2016)

    Đáp án đề thi ngữ văn vào 10 Vĩnh Phúc 2021

    Câu 1: Đoạn
    văn trên được trích trong tác phẩm nào?

    A. Chuyện người con gái Nam Xương          B. Chiếc lược ngà

    C. Lặng lẽ Sa Pa                                            D.
    Làng

    Câu 2. Phương thức biểu
    đạt chính của đoạn văn trên là gì?

    A. Tự sự                                                        B.
    Nghị luận

    C. Biểu cảm                                                   D.
    Thuyết minh

    Câu 3. Đoạn văn trên có mấy
    từ láy ?

    Câu 4. Xét theo mục đích nói, câu ‘‘Ông lão nín
    thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…” thuộc kiểu câu gì?

    A. Câu nghi vấn                                             B.
    Câu trần thuật

    C. Câu cảm thán                                            D.
    Câu cầu khiến

     

    II. PHẦN
    TỰ LUẬN (8,0 điểm)

    Câu 5 (3,0
    điểm).

    Em hãy viết một đoạn văn
    trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống. Trong
    đoạn văn có sử dụng phép liên kết nối. Gạch chân dưới từ ngữ thực hiện phép
    liên kết ấy.

    Câu 6 (5,0 điểm). 

    Cảm nhận của em về đoạn thơ
    sau:

    Bỗng nhận ra hương
    ổi

    Phả vào trong
    gió se

    Sương chùng
    chình qua ngõ

    Hình như thu
    đã về

     

    Sông được lúc dềnh dàng

    Chim bắt đầu vội vã,

    Có đám mây mùa hạ

    Vắt nửa mình sang thu”.

    (Trích
    Sang thu – Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập
    2, NXB Giáo dục Việt Nam 2016)

    —–HẾT—–

    HƯỚNG DẪN
    CHẤM

     

    I: PHẦN TRẮC
    NGHIỆM (2,0 điểm)

    Câu

    1

    2

    3

    4

    Đáp án

    D

    A

    C

    B

    Điểm

    0,5

    0,5

    0,5

    0,5

     

    II. PHẦN TỰ LUẬN (8,0 điểm)

    Câu 5 (3 điểm)

    Ý

    Nội dung

    Điểm

     

    Em hãy viết một đoạn
    văn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống.
    Trong đoạn văn có sử dụng phép liên kết nối. Gạch chân dưới từ ngữ thực hiện
    phép liên kết ấy

    3,0

    1

    Yêu cầu về hình thức

     

     

    – Về hình thức viết đúng hình thức đoạn văn.

    – Về kiến thức
    Tiếng Việt : trong đoạn văn có sử dụng
    có sử dụng phép liên kết nối, gạch chân dưới từ ngữ thực hiện phép
    liên kết ấy

    0,5

    0.5

    2

    Đảm bảo các ý cơ bản về nội
    dung

    2,0

     

    – Tinh thần trách nhiệm là ý thức làm tròn bổn phận, nghĩa vụ đối vởi bản
    thân, gia đình, và xã hội; có trách nhiệm với suy nghĩ, hành động, thái độ…
    của bản thân mình

    – Ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm :

    + Là một chuẩn mực để đánh giá nhân cách, sự trưởng thành của một người

    + Giúp chúng ta phát huy được phẩm chất, năng lực của bản thân, hoàn
    thiện chính mình; hoàn thành tốt công việc và thành công trong cuộc sống…

    + Có được lòng tin, sự quý mến, kính trọng của mọi người…

    + Mỗi cá nhân có tinh thần trách nhiệm sẽ góp phần xây dựng cộng đồng, xã
    hội phát triển văn minh, toàn diện…

    – Phê phán lối sống ích kỉ, vô trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã
    hội

    – Bài học: thí sinh rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp, suy
    nghĩ tích cực

    0,5

     

     

     

    0,25

    0.25

     

    0,25

    0,25

     

    0,25

    0,25

     

    Câu 6 (5,0 điểm). 

    Ý

    Nội dung

    Điểm

    1

    Giới thiệu chung: Khái quát về tác giả Hữu Thỉnh,
    bài thơ Sang thu, đoạn trích thơ

    0,5

    2

    Cảm nhận

    3,0

    Khổ thơ thứ
    nhất

    1,5

    a. Những tín hiệu báo mùa thu về:

    + Hương ổi:  làn hương thơm quen thuộc ở làng
    quê Bắc bộ; động từ phả là tỏa vào,
    trộn lẫn gợi hương ổi lan tỏa khắp không gian với một mùi thơm ngọt mát, dịu
    nhẹ…

    +Gió se: gió heo may mua thu se se lạnh

    + Sương được nhân hóa qua từ láy gợi hình “chùng chình” gợi màn sương thu mỏng, mềm mại, giăng mắc khắp ngõ
    xóm làng quê. Sương như chứa đầy
    tâm trạng, dùng dằng, cố ý chậm lại như chờ đợi, lưu luyến điều gì…

    b. Cảm xúc
    của nhà thơ trước những tín hiệu báo mùa thu về:

    + Bỗng:
    Cảm giác bất ngờ, ngỡ ngàng,
    xúc động
    trước tín hiệu chuyển mùa của thiên nhiên

    + Hình như: cảm giác mơ hồ, mong manh

    à Bằng sự cảm nhận của tất cả các giác quan, sử dụng
    những từ ngữ gợi hình gợi cảm… nhà thơ đã diễn tả vẻ đẹp đặc trưng của thiên
    nhiên cuối hạ đầu thu qua những nét vẽ thanh sơ, mang đến một bức tranh đậm
    chất thu của vùng đồng bằng Bắc bộ. Đồng thời cho thấy sự tinh tế và tình yêu
    thiên nhiên tha thiết của tác giả

    0,75

     

     

     

     

     

     

     

    0,5

     

     

     

    0,25

    Khổ thơ thứ
    hai

    1,5

    a. Bức
    tranh mùa thu được cảm nhận trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn, diễn tả sự thay
    đổi của đất trời từ hạ sang thu, nhẹ nhàng mà rõ rệt

    + Sông được
    nhân hóa qua từ láy dành dàng gợi
    tả dòng sông chảy chậm êm dịu, chứa đầy tâm trạng…

    + Trái ngược với vẻ khoan thai của dòng sông, những
    cánh chim bắt đầu vội vã di trú về
    phương Nam tránh rét…

    + Hình ảnh đám mây được nhân hóa vắt nửa mình sang thu gợi liên tưởng
    thú vị; chữ vắt thật tinh tế gợi
    cảm khiến những đám mây hiện lên mềm mại, nhẹ nhàng như những chiếc khăn voan
    nửa nghiêng về mùa hạ nửa ngả về mùa thu…

    b. Cách cảm
    nhận của nhà thơ về thiên nhiên ở khoảnh khắc cuối hạ đầu thu: độc đáo tinh
    tế với trí tưởng tượng bay bổng…

    à Bức tranh thiên nhiên trong khúc giao mùa hiện lên
    tinh tế sống động qua những câu thơ giàu chất tạo hình… Qua đó ta thấy một
    hồn thơ Hữu Thỉnh ngây ngất, say sưa, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết

    0,75

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0, 5

     

    0,25

    3

    Đánh giá,
    mở rộng

    1.0

    + Nghệ
    thuật:
    thể thơ năm chữ, ngôn ngữ
    giản dị, sáng tạo, gợi hình, gợi cảm, hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các phép tu
    từ tài hoa, điêu luyện (nhân hóa, ẩn dụ, tương phản…)

    + Nội
    dung:
    đoạn thơ là một khúc giao mùa
    nhẹ nhàng, thơ mộng, bâng khuâng góp phần làm cho Sang thu trở thành một thi phẩm đẹp, nối tiếp hành trình thơ thu
    dân tộc, đem đến một tiếng thơ đằm thắm mà chan chứa tình yêu quê hương đất
    nước

     

    Đảm
    bảo quy tắc chính tả, dùng từ đặt câu; bài viết sáng tạo giàu chất văn

    0,5



    [ad_2]

  • Dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

    Dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

    [ad_1]

    Dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác (Viễn Phương)

    I. Mở bài

    Cách 1: Gián tiếp (Giới thiệu chủ đề/ đề tài – Tác giả
    và tác phẩm – Nội dung cần nghị luận (nội dung chính của văn bản)

    – Bác
    Hồ, tên gọi thân yêu vang âm trong trái tim bao người, đã trở thành cảm hứng
    cho biết bao thi sĩ. Đó là “Đêm nay Bác
    không ngủ”
    của Minh Huệ, “Người đi
    tìm hình của nước”
    của Chế Lan Viên….

    – Ra
    đời vào tháng 4/1976, “Viếng lăng Bác”
    của Viễn Phương đã làm phong phú thêm đề tài thơ về Bác.

    – Bài
    thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn
    nỗi xót đau khi tác giả ra viếng lăng Bác.

     

    Dàn ý phân tích Viếng lăng Bác


    Cách 2: Trực tiếp (Giới thiệu tác giả: vai trò, vị trí
    trong nền văn học VN, phong cách sáng tác – Giới thiệu tác phẩm: năm sáng tác, hoàn
    cảnh sáng tác… – Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: nội dung chính của văn bản)

    – Viễn Phương tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê
    tỉnh An Giang. Ông là cây bút xuất hiện sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải
    phóng ở miền Nam. Thơ ông giàu tình cảm, mơ mộng ngay trong những hoàn cảnh
    chiến đấu ác liệt.

    – Ra đời vào tháng 4-1976 khi tác giả ra thăm miền
    Bắc, vào thăm lăng Bác, “Viếng lăng Bác”
    là tác phẩm tiêu biểu của Viễn Phương. Bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng,
    thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả ra viếng
    lăng Bác.

    II. Phân tích

    1.
    Cảm xúc của nhà thơ khi đến lăng Bác (khổ 1)


    Câu thơ mở đầu như một lời kể:

    “Con
    ở miền Nam ra thăm lăng Bác”


    Viễn Phương xưng “con” và gọi “Bác”. Cách xưng hô này thật gần gũi, ấm áp tình
    thân thương mà vẫn rất mực thành kính, thiêng liêng. Đồng thời, cũng diễn tả
    tâm trạng xúc động của người con ra thăm cha sau bao nhiêu năm xa cách.


    Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”. “Viếng” là đến chia buồn với
    thân nhân người đã mất. Còn “thăm” là gặp gỡ, trò chuyện với người đang sống.
    Cách nói giảm, nói tránh như vậy nhằm giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát. Khẳng
    định Bác vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, trong lòng dân tộc.


    Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà còn ở hình ảnh cây tre vô
    cùng thân thuộc:

    “Đã thấy
    trong sương hàng tre bát ngát 

    Ôi! Hàng tre
    xanh xanh Việt Nam 

    Bão táp mưa
    sa, đứng thẳng hàng.” 

    + Ấn
    tượng đầu tiên với nhà thơ khi đến bên lăng Bác là hình ảnh “hàng tre”, hình
    ảnh tượng trưng cho làng quê, cho con người Việt Nam: giản dị, thân thuộc nhưng
    kiên cường, bất khuất…

    +
    Tác giả bật lên một tiếng “Ôi!” vừa đầy thương cảm vừa mang vẻ tự hào. Thương
    cảm vì dân tộc ta phải trải qua bao nhiêu “bão táp mưa sa”- bốn nghìn băn lịch
    sử chống ngoại xâm với bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả máu đã đổ xuống. Tự hào
    vì tre vẫn “đứng thẳng hàng” như người Việt ta vẫn kiên cường, bất khuất trước
    mọi gian lao, thử thách.

    =>
    Chỉ một khổ thơ ngắn thôi nhưng cũng đủ để thể hiện những cảm xúc chân thành,
    thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu. 

    2. Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng
    Bác (khổ 2)

    (xem thêm…)

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Quảng Ninh 2021

    Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Quảng Ninh 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    I. ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)

    Đọc đoạn trích sau:

    (1) Tôi
    thích lên danh sách. Đây là lời đề nghị: hãy lên danh sách năm mươi điều bạn
    trân
    trọng, biết ơn (vâng, năm mươi). Mười điều đầu tiên rất dễ: người thân, công việc,
    gia đình…
    Biết ơn vì bạn nói tiếng Việt (hoặc tiếng Nhật,
    tiếng Đức). Biết ơn vì có đủ hai mắt, có trái tim khỏe, hoặc vì bạn không sống
    trong vùng chiến tranh. Biết ơn người khác. Cầu
    chúc cho người nông dân nỗ lực làm nên thức ăn trên bàn. Cầu chúc cho người
    công
    nhân tạo ra chiếc xe máy bạn đi. Cầu chúc cho người bán hàng nơi bạn mua quần
    áo. Cầu chúc cho người phục vụ quán ăn bạn đến
    hôm qua.

    (2) Đó là thái độ biết ơn. Hãy lưu tâm đến
    những phúc lành của mình, đừng xem bất cứ điều gì là hiển nhiên. Tôi chắc chắn
    bạn sẽ có nhiều thứ biết ơn hơn những gì bạn thấy. Chỉ cần nghĩ đến. Chỉ cần
    trân trọng. Và để ý xem điều gì sẽ xảy đến.

    (Trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma, NXB
    Trẻ, 2019, tr.33-34)

    Đáp án đề thi môn Ngữ văn vào 10 năm 2021

    Thực hiện các yêu cầu:

    Câu 1. (0,5
    điểm)
    Theo đoạn văn (1), tác giả đề
    nghị
    điều gì?

    Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra thành
    phần biệt lập trong câu:
    Tôi chắc chắn bạn sẽ có nhiều thứ biết ơn hơn những
    gì bạn thấy.

    Câu 3. (0,5
    điểm
    ) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong các câu in đậm.

    Câu 4. (0,5 điểm) Trong lời đề nghị của tác giả về
    những điều cần trân trọng, biết ơn, em tâm đắc nhất điều gì? Vì sao?

    II. LÀM VĂN (8,0 điểm)

    Câu 1. (3,0
    điểm
    )

    Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc
    hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của
    lòng biết ơn trong cuộc sống. Đoạn văn có câu sử dụng thành phần khởi ngữ (gạch
    chân thành phần khởi ngữ).

    Câu 2. (5,0
    điểm)

    Cảm nhận của em về đoạn trích sau:

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

     

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    (Trích Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.144)

    —–HẾT—–

     

    (xem thêm…)

  • Đáp án đề thi Ngữ văn vào 10 tỉnh Thanh Hoá 2021

    Đáp án đề thi Ngữ văn vào 10 tỉnh Thanh Hoá 2021

    [ad_1]

    ĐỀ THI VÀO LỚP 10 THPT 2021–
    THANH HOÁ

    Thời gian làm bài: 120 phút (không
    kể thời gian giao đề)

    I. ĐỌC HIỂU (3,0
    điểm)

    Đọc đoạn trích sau:

    Tình yêu thương chân thật thường rất vị tha. Người có tình yêu chân
    thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là bản thân mình. Tình
    yêu ấy làm cho chúng ta thay đổi bản thân và một ngày trưởng thành hơn. Tình
    yêu thương chân thành và sâu sắc bao giờ cũng trường tồn ngay cả sau khi người
    đó đã từ giã cuộc đời. Tuy nhiên, yêu thương không được bày tỏ thì không bao
    giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó (
    ...)

    Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người xung quanh ngay khi chúng ta
    còn hiện diện trong cuộc sống này. Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa
    sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta. Bạn đừng ngần ngại khi muốn nói với ai đó rằng
    bạn rất yêu quý họ!

    (Trích Cho đi là còn mãi,
    Azim Jamal & Harvey McKinnon, NXB Trẻ, 2010, tr. 56-57)

    Đáp án Ngữ văn thi vào 10 Thanh Hoá 2021

    Đáp án môn Ngữ văn thi vào 10 Thanh Hoá 2021

    Thực hiện các yêu cầu sau:

    Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích?

    Câu 2. Theo đoạn trích, người có tình
    yêu thương chân thật
    thường nghĩ gì?

    Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng: Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa
    sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta.

    Câu 4. Anh/ chị có đồng tình với nhận định của tác giả: yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích
    thị của nó
    ? Vì sao

    II. TẬP LÀM VĂN (7 điểm)

    Câu 1: (2,0 điểm)

    Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị
    viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sức mạnh của tình yêu
    thương trong cuộc sống.

    Câu 2: (5,0 điểm)

    Cảm nhận của anh/chị trong đoạn thơ sau:

    Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

     

    Mai về miền Nam thương trào nước mắt

    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

    Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

    (Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương,

    Ngữ văn 9, Tập hai, NXB giáo dục Việt Nam, 2015,
    tr 58-59)

    —–HẾT—–

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức

    Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Ngữ văn 7 Kết nối tri thức gồm 2 file: SGK Ngữ văn 7 tập 1 KNTT và SGK Ngữ văn 7 tập 2 KNTT do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành và phân phối. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Ngữ văn 7 Kết nối tri thức.

    SHS Ngữ văn 7 tập 1 KNTT

    Sách học sinh Ngữ văn 7 tập 1 Kết nối tri thức

    Tác giả: Bùi Mạnh Hùng (Tổng Chủ biên), Phan Huy Dũng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Nguyễn Thị Mai Liên, Lê Trà My, Lê Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Hải Phương.

    Xem trực tiếp SGK TẬP 1

    TÂP 2

    TẢI VỀ BỘ SÁCH VĂN 7

    sachhoc.info cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!