Danh mục: NGỮ VĂN

  • Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, ngạn ngữ về các thầy cô giáo

    Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, ngạn ngữ về các thầy cô giáo

    Những câu tục ngữ về thầy cô nhân ngày 20/11 hay và ý nghĩa

    1. Tiên học lễ, hậu học văn.

    2. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.

    3. Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

    4. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    5. Không thầy đố mày làm nên.

    6. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    7. Mồng 1 tết cha, mồng ba tết thầy.

    8. Nhất quý nhì sư.

    9. Một gánh sách không bằng một giáo viên giỏi.

    10. Trọng thầy mới được làm thầy.

    Tục ngữ về thầy cô

    Những bài ca dao về ngày 20/11 ý nghĩa nhất

    1.

    Vua, thầy, cha, ấy ba ngôi
    Kính thờ như một, trẻ ơi ghi lòng.

    2.

    Mười năm rèn luyện sách đèn
    Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy.

    3.

    Ơn thầy soi lối mở đường
    Cho con vững bước dặm trường tương lai.

    4.

    Mấy ai là kẻ không thầy
    Thế gian thường nói đố mày làm nên.

    5.

    Ơn đây gần bạn, gần thầy
    Có công mài sắt có ngày nên kim.

    6.

    Chữ thầy trong cõi người ta
    Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy.

    7.

    Ai người đánh thức đêm trường mộng
    Ai soi đường lồng lộng ánh từ quang
    Ai thắp lửa bồ đề tỏa sáng
    Đạo vô vi sưởi ấm cả trần gian.

    8.

    Con ơi ghi nhớ lời này
    Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên.

    9.

    Con ơi ham học chớ đùa
    Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.

    10.

    Công cha, áo mẹ, chữ thầy
    Gắng công mà học có ngày thành danh.

    11.

    Dốt kia thì phải cậy thầy
    Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên.

    12.

    Đến đây viếng cảnh viếng thầy
    Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.

    13.

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.

    14.

    Mẹ cha công đức sinh thành
    Ra trường thầy dạy học hành cho hay.

    15.

    Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây
    Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.

    16.

    Dạy con từ thuở tiểu sinh
    Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
    Học cho “cách vật trí tri”
    Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông.

    Thành ngữ về ngày 20/11

    Những câu ngạn ngữ, danh ngôn, thành ngữ về thầy cô hay nhất

    Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng có những câu ngạn ngữ, danh ngôn, thành ngữ về thầy cô rất hay và ý nghĩa.

    1. Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý (Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

    2. Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn (Uyliam Batơ Dit).

    3. Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác (Usinxki).

    4. Tôi dường như không phải là thầy giáo… và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng (V.A. Sukhomlinxki).

    5. Người thầy cố gắng dạy nhưng không truyền cảm hứng để học trò muốn học là nện búa vào tấm sắt lạnh (Horace Mann).

    6. Người thầy cầm tay, mở ra trí óc và chạm đến trái tim (Khuyết danh).

    7. Những gì thầy cô viết lên tấm bảng cuộc đời không bao giờ tẩy xóa được (Khuyết danh).

    8. Một người thầy thực sự đặc biệt thì rất hiểu biết và nhìn thấy tương lai trong đôi mắt của mọi học trò (Khuyết danh).

    9. Những thầy cô giỏi nhất dạy bằng trái tim, chứ không từ sách vở (Khuyết danh).

    10. Muốn xây dựng đất nước, trước hết phải phát triển giáo dục. Muốn trị nước, phải trọng dụng người tài (Vua Quang Trung).

    >>> Hướng dẫn: Cách làm thiệp 20/11 bằng giấy A4 đơn giản, đẹp, sáng tạo

    Ca dao về ngày 20/11

    11. Dạy học là đặt vết tích của một người vào sự phát triển của một người khác. Và chắc chắn học trò là ngân hàng nơi bạn có thể gửi kho báu quý giá nhất của bạn (Eugene P.Bertin).

    12. Dạy tức là học hai lần (G.Guibe).

    13. Giáo dục như ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái tranh của con nhà nghèo (Pestalogi).

    14. Tôi mang ơn cha mẹ cho tôi sự sống nhưng tri ân thầy tôi đã dạy tôi sống đẹp (Alexander The Great).

    15. Nghề dạy học không thể nhìn thấy kết quả của một ngày làm việc. Kết quả ấy vô hình và có lẽ vẫn còn đó đến 20 năm sau (Jacques Bazun).

    16. Người thầy trung bình chỉ biết nói. Người thầy giỏi biết giải thích. Người thầy xuất chúng biết minh họa. Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng (William A. Ward).

    17. Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế (Philoxene De Cythere).

    18. Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được (Usinxki).

    19. Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cách kiếm sống hay cung cấp công cụ để đạt được sự giàu có, mà đó phải là con đường dẫn lối tâm hồn con người vươn đến cái Chân và thực hành cái Thiện (Vijaya Lakshmi Pandit).

     

    Trên đây là tổng hợp những câu ca dao về ngày 20/11, thành ngữ, tục ngữ về thầy cô hay và ý nghĩa nhất. Hi vọng những câu nói ấy sẽ giúp bạn thêm hiểu và trân quý những người thầy, người cô đáng kính của mình.

  • Phương Pháp Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội Có Lời Giải

    Phương Pháp Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội Có Lời Giải

    Phương pháp viết đoạn văn nghị luận xã hội có lời giải được soạn dưới dạng file word và PDF gồm 117 trang. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    XEM ONLINE VÀ TẢI VỀ

  • Tài Liệu Tiếng Việt Lớp 9 Ôn Thi Vào 10 Có Lời Giải

    Tài Liệu Tiếng Việt Lớp 9 Ôn Thi Vào 10 Có Lời Giải

    Tài liệu Tiếng việt lớp 9 ôn thi vào 10 có lời giải được soạn dưới dạng file word và PDF gồm 20 trang. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    XEM ONLINE VÀ TẢI VỀ

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 4 Phần Thực Hành Tiếng Việt

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 4 phần Thực hành tiếng Việt được soạn dưới dạng file pptx gồm 20 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 4 Phần Viết Báo Cáo

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 4 phần Viết báo cáo được soạn dưới dạng file pptx gồm 14 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

    [913.60 KB]

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 4 Phần Nói Và Nghe

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 4 phần Nói và nghe được soạn dưới dạng file pptx gồm 7 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 5 Phần Tri Thức Đọc Hiểu

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 5 phần Tri thức đọc hiểu được soạn dưới dạng file pptx gồm 25 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 5 Phần Xúy Vân Giả Dại

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 5 phần Xúy Vân giả dại được soạn dưới dạng file pptx gồm 27 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 5 Phần Huyện Đường

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 5 phần Huyện đường được soạn dưới dạng file pptx gồm 28 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 5 Phần Múa Rối Nước

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 5 phần Múa rối nước được soạn dưới dạng file pptx gồm 22 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 5 Phần Viết Báo Cáo Nghiên Cứu

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 5 phần Viết báo cáo nghiên cứu được soạn dưới dạng file pptx gồm 29 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

    [948.83 KB]

  • Giáo Án PowerPoint Văn 10 KNTT Bài 5 Phần Nói Và Nghe

    Giáo án PowerPoint Văn 10 KNTT bài 5 phần Nói và nghe được soạn dưới dạng file pptx gồm 14 slide. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

    [490.22 KB]

  • Sơ Đồ Tư Duy Môn Ngữ Văn Lớp 9 Cả Năm

    Sơ đồ tư duy môn Ngữ văn lớp 9 cả năm được soạn dưới dạng file word và PDF gồm 28 trang. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • 45 Đề Thi Tuyển Sinh 10 Môn Ngữ Văn Năm 2020-2021 Có Đáp Án

    Bộ đề thi tuyển sinh 10 môn Ngữ văn năm 2020-2021 của các Sở GD và ĐT trên cả nước có đáp án được soạn dưới dạng file word và PDF gồm 161 trang. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

  • Các Chuyên Đề Nghị Luận Văn Học Ôn Thi Vào 10 Có Lời Giải

    Các chuyên đề nghị luận văn học ôn thi vào 10 có lời giải được soạn dưới dạng file word và PDF gồm 386 trang. Các bạn xem và tải về ở dưới.

    Tải Về File

    [930.20 KB]

  • 15 Bài dự thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường 2023

    15 Bài dự thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường 2023

    Cuộc thi viết “Những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô giáo và mái trường” năm 2023 với mục đích ghi nhận, tôn vinh những thầy giáo, cô giáo có tình cảm, việc làm, thành tích tốt đẹp, đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới giáo dục.

    Sau đây là một số mẫu bài viết về những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu. Hy vọng với những bài viết về thầy cô và mái trường này các bạn sẽ có thêm những ý tưởng, những cảm xúc để viết riêng về kỷ niệm của mình với thầy cô.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 1

    Mái trường thân thương

    Khoảng thời gian ba năm học cấp ba không phải là quá dài so với nhiều người nhưng chẳng hề ngắn. Trong thời gian ấy, có rất nhiều người chỉ biết học, chỉ mong sao cho nhanh hết cấp ba để được đi đại học, để được tự do. Còn tôi, tôi không nghĩ vậy, khoảng thời gian ấy tôi không đối với tôi là khoảng thời gian vô cùng quý báu là khoảng thời gian hạnh phúc nhất cuộc đời vì tôi được học tại nơi đây, được học tại mái trường THPT…………….. này.

    Quả thật thời gian trôi qua không chờ cũng chẳng đợi một ai cả. Chớp mắt cái đã bay vèo hết ba năm nhiều lúc thể nào tin được rằng mình bây giờ đã già đầu nhất trường rồi. Còn nhớ mãi ấn tượng đầu tiên về trường của tôi là khi thấy các anh chị thi đỗ vào trường thì vô cùng ngưỡng mộ. Ngày ấy cứ mỗi lần bố mẹ cho lên ………. chơi là lại đi vòng qua cổng trường, lúc ấy hai bên con dốc cao thoai thoải của trường còn có hai hàng cây xanh tỏa bóng mát cho học sinh đi học mỗi buổi chiều mùa hè oi bức nhìn xa hơn một chút là cái biển cũ kĩ sơn màu xanh làm nổi bật lên dòng chữ trắng “Trường THPT chuyên………………” ở đằng sau cánh cổng trường như hiện hữu bao điều bí mật kì thú chờ đợi tôi khám phá. Và đó cũng là động lực để tôi ước được bước chân vào học mái trường này. Và rồi tôi cùng đỗ mặc dù số điểm vào trường của tôi không cao như các bạn khác. Ngày biết điểm những cảm xúc trong tôi như được vỡ òa. Niềm hạnh phúc xen lẫn tự hào và háo hức về một tương lai mới, môi trường mới, một cuộc sống tự lập xa gia đình của một cô bé 15 tuổi xâm chiếm hết tâm hồn tôi. Lúc đó tôi muốn hét lên cho cả thế giới biết “TÔI ĐỖ RỒI!!!” cái ước mơ mà tôi ấp ủ bao lâu cũng thành hiện thực rồi. Tôi bước vào trường ngày đầu tiên vào một buổi sáng mùa hạ tầm tháng 7 do trường có lịch học vào sớm hơn các trường khác. Mặc dù hôm ấy trời không lạnh nhưng chân tay tôi cứ run hết cả lên, có lẽ là vì quá hồi hộp. Khi ấy những sợi nắng len lỏi qua các tán cây như nhuộm một màu tươi sáng hân hoan đón chào những tân học sinh mới bỡ ngỡ bước vào cổng trường. Không thể không kể đến con dốc với độ nghiêng 45 độ đã đốn gục khá nhiều sức lực của tôi. Khép nép trong màu áo trắng, tôi cảm giác mình như trưởng thành lên và thấy tự hào khi đeo trên mình phù hiệu của trường, phải rồi tôi đang lớn dần. Khó có thể nào quên được những ngày đầu tiên bước vào lớp mới, phải dần làm quen với một sự thay đổi thực sự khi phải rời xa những gì đã quá quen thuộc đến nỗi như một phần của cuộc sống và nó đối với tôi nó còn khó hơn gấp bội lần, vì tôi là một con người thích sống khép kín và gần như là khó có thể giao tiếp với những người bạn mới. Nhưng con người ai cùng phải thay đổi, phải thích nghi với cuộc sống này. Dần dần tôi cũng đã có thể làm quen được gần hết các bạn trong lớp. Ba mươi sáu con người mỗi người một vẻ, nhưng chúng tôi là một tập thể, chúng tôi luôn đoàn kết và gạt bỏ những cái tôi của mình. Những người bạn là những người đồng hành tuyệt vời luôn sát cánh bên tôi trong con đường học tập. Nhưng để nói tôi của ngày hôm nay một con người trưởng thành hơn rất nhiều thì thầy cố mới là những người có công rất lớn, thầy cô như là những người cha người mẹ thứ hai dạy dỗ chúng tôi thành người. Nếu nói thầy cô là những người lái đò đưa học sinh qua sông, thì thầy cô giáo trường tôi là những người lái đò tận tâm. Ngôi trường của tôi không đồ sộ như các ngôi trường ở những thành phố lớp nhưng đối với tôi nó đặc biệt nhất. Đối với tôi nó còn quý giá hơn hàng vạn viên kim cương, bởi hàng ngày tôi đến nơi đây để biết thêm học hỏi thêm bao điều mới mẻ, tôi cảm nhận được thêm tinh thần yêu nước to lớn của dân tộc thấm đượm qua những áng văn qua nhưng vần thơ cô giảng tôi hiểu hơn những trang sử hào hùng những chiến công kì tích của cha ông để bảo vệ đất và tôi còn được đưa đến với những vùng đất mới với bao điều lí thú về thiên nhiên, về phong tục và truyền thống lâu đời của con người ở đó qua các bài giảng của thầy cô đã thức khuya dậy sớm để chuẩn bị cho chúng tôi. Ngoài ra chúng tôi còn được khám phá những tính chất định lý toán học, vật lý, hóa học lạ lẫm và thú vị. có được tất cả những điều ấy là nhờ công lao của những người thầy cô giáo đã thầm lặng ngày ngày truyền đạt cho chúng tôi. Thầy cô dạy cho chúng tôi những đức tính tốt đẹp những đạo lý để làm người, thầy cô luôn luôn quan tâm đến chúng tôi, trăn trở vì những khuyết điểm mà chúng tôi vấp phải. Và những người thầy người cô những con người luôn tận tụy suốt những năm tháng ấy đã dìu dắt tôi đến bên bến bờ tri thức. không chỉ vậy, tình yêu mang tên “THPT………..” còn được tạo nên qua những kỉ niệm qua những khung bậc cảm xúc của ngày khai giảng, ngày lễ 20/11… tôi yêu hàng cây lộc vừng luôn nở hoa vào lúc giao mùa từ xuân sang hạ, nó như tô điểm thêm cho mái trường này càng lung linh rực rỡ. Tôi yêu những giờ ra chơi tất cả ào ra sân tập thể dục như điệu như đàn ong vỡ tổ, đứa nào đứa nấy háo hức tập vui vẻ nở nụ cười, và cả những có tổ chức lễ khai giảng các dịp lễ lớn. các bạn nữ tung bay trong tà áo dài thướt tha của tuổi mới lớn vui tươi hớn hở chào mừng những ngày lễ. Tôi yêu lắm sân trường này mỗi khoảng nền đất, mỗi chiếc ghế dá đều in đánh dấu những kỉ niệm đẹp về mỗi lần chơi đùa nói chuyện rôm rả với lũ bạn. Nhớ lắm những kỉ niệm buồn vui những lúc sát cánh bên nhau những lúc vượt qua khó khăn trong học tập và những tình yêu “chớm nở” những rung động đầu đời những cảm xúc ngây ngô, vụng dại tuổi mộng mơ, tình yêu thời “cắp sách”. Nó thật đẹp !

    Và bạn ơi, tôi biết mỗi ai trong chúng ta ai cũng đã từng có một thời học sinh hồn nhiên với bao kỉ niệm như thế! Tôi cũng vậy, tôi có một thời học sinh vô cùng vui vẻ, ý nghĩa. Một thời học sinh không bao giờ quên với những lần quên không làm bài tập bị thầy cô phạt. Thời gian thì cứ trôi, trôi mãi chẳng chờ đợi một ai, khoảng thời gian ba năm trôi qua nhanh như chớp mắt và rồi mỗi chúng ta cũng sẽ đến lúc nói lời tạm biệt mái trường nơi đây để đến với những cuộc sống mới, môi trường học mới nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ quên những ngày tháng tràn ngập kỉ niệm đẹp đẽ này. Dù có đi đâu thì ngôi trường này vẫn chiếm trọn vị trí cao nhất trong tôi – Ngôi trường THPT chuyên ……….. thân yêu!

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 2

    Có lẽ trong cuộc đời mỗi người đều sẽ luôn ghi nhớ về những kỉ niệm của tuổi học trò. Đối với tôi, một trong những kỉ niệm sâu sắc và đáng nhớ nhất chính là về buổi đầu tiên bước chân vào mái trường Trung học cơ sở.

    Sau biết bao ngày tháng miệt mài nỗ lực học tập để có thể hoàn thành tốt trong kì thi chuyển cấp. Tôi đã đạt được mong ước của mình là có thể đặt chân vào ngôi trường cấp 3 – một ngôi trường chuyên của huyện mà tôi hằng mơ ước. Ngày hôm nay, tôi đến trường nhận lớp trong sự háo hức và hồi hộp của một học sinh cấp 3. Với sự thay đổi này, tôi cảm thấy mình đã trưởng thành hơn một bậc vậy.

    Trong bộ đồng phục của trường (tên trường).Tôi đeo chiếc cặp mới và đạp xe tới trường. Hằng – người bạn thân từ hồi cấp 2 đã đến rủ tôi từ khi nào. Trường mới cách nhà chúng tôi mười lăm phút đạp xe. Khi đến nơi, cả hai đứa đều không mấy ngỡ ngàng trước sự rộng lớn và khang trang của ngôi trường, vì chúng tôi đã đến đây vào kỳ thi trước đó.

    Sau khi cất xe vào nhà xe theo sự hướng dẫn của bác bảo vệ. Chúng tôi nhanh chóng tiến về phía sân trường, lúc này đã đầy những bạn học sinh. Tôi thầm nghĩ rằng những gương mặt này rồi sẽ có những ai trở thành bạn bè của mình. Chúng tôi nghe theo sự phân công của cô tổng phụ trách và xếp thành các hàng dọc. Vì hôm nay là buổi tập trung riêng của khối lớp mười nên cô tổng phụ trách giới thiệu đôi nét về trường học và phổ biến về nội quy của trường lớp để chúng tôi nắm rõ. Sau đó, cô yêu cầu tất cả chúng tôi theo dõi danh sách lớp học và phòng học được dán ở bảng tin. Tôi nhanh chóng tìm tên mình và lớp học. Thật may mắn là chúng tôi lại tiếp tục học cùng một lớp do danh sách được nhà trường chia theo địa phương mà học sinh ở.

    Cả hai háo hức cùng nhau lên lớp thì đã thấy có rất nhiều bạn học sinh ở trong lớp. Tôi đưa mắt ngắm nhìn khung cảnh lớp học. Bàn học, bảng đen… đều vẫn còn rất khang trang. Chúng tôi vui vẻ bắt chuyện với các bạn trong lớp. Một lát sau, cô giáo chủ nhiệm của lớp tôi bước vào lớp. Theo như lời cô giáo giới thiệu thì cô tên là Thủy và phụ trách dạy môn Văn. Ấn tượng đầu tiên của tôi về cô là trông cô rất xinh đẹp và khá dịu dàng. Giọng nói của cô vô cùng ấm áp.

    Sau đó, cô yêu cầu chúng tôi giới thiệu đôi nét về bản thân. Buổi làm quen diễn ra thật sôi nổi và vui vẻ. Cuối buổi, cô Thủy dặn dò cả lớp về ngày lễ khai giảng và buổi học đầu tiên. Trong ấn tượng của mình, cô giáo chủ nhiệm của lớp tôi vô cùng nhiệt tình nhưng cũng rất nghiêm khắc. Khi về nhà, tôi đã hy vọng rằng những năm tháng học tập dưới mái trường này sẽ trôi qua thật ý nghĩa.

    Ấn tượng sâu sắc về buổi đầu tiên đặt chân đến ngôi trường cấp 3 đã in đậm trong tâm trí tôi. Nó giống như là một kỉ niệm đẹp đẽ mở ra một bước ngoặt cho những năm tháng dưới mái trường cấp ba thân yêu mà tôi đang gắn bó.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 3

    “Dù năm tháng vô tình trôi mãi mãi, tóc xanh bây giờ đã phai. Thầy vẫn đứng bên sân trường năm ấy, dõi theo bước em trong cuộc đời. Dẫu đếm hết sao trời đêm nay, dẫu đếm hết lá mà thu bay. Nhưng ngàn năm, là sao em đếm hết công ơn người thầy”.

    Cô ơi! Vậy là sắp một năm trôi qua rồi cô nhỉ? Chẳng biết giờ cô có còn nhớ em không? Nhưng còn em vẫn nhớ về cô. Hôm nay giữa những bộn bề của công việc, những bon chen của cuộc sống em đã để tâm hôn mình lặng, để khi nghe về bài hát “Người thầy” em nhớ về cô và các bạn. Em còn nhớ lúc em tập hát cho cô và các bạn nghe để thi văn nghệ. Sao giờ nghe lại em lại có nhiều cảm xúc đến thế? Cô ơi khi còn ngồi trên ghế giảng đường vẫn còn được nghe tiếng cô, được nghe bạn bè góp ý chân thành. Những lúc em không hiểu bài em vẫn được cô tận tình giảng giải. Nhưng giờ em đã ra trường đi làm và kiếm sống. Cuộc sống không đơn giản như những câu thơ, cũng không đẹp như giấc mơ màu hồng cô nhỉ? Mà đó là bon chen xô đẩy, và là những ghen tị. Cô ơi em muốn được quay về khoảng thời gian của một năm về trước. Em muốn mỗi lúc buồn hay là thất vọng vì điều gì đó, em lại gặp ánh mắt của của cô, nụ cười của cô, tất cả như một ngôn từ biết nói. Khi nhìn vào mắt cô, nhìn thấy nụ cười ấy, em luôn có niềm tin, và sức mạnh để đi tiếp cô à.

    Em chúc cô luôn luôn giàu nhiệt huyết để truyền ngọn lửa sống tới các thế hệ mai sau. Chúc cho nụ cười rạng rỡ của cô luôn đẹp, để truyền cho các em niềm tin và sự lạc quan. Em chúc ánh mắt của cô mãi sáng để nói với các em rằng: “Cuộc sống chẳng có gì là khó khăn nếu như ta vẫn còn niềm tin và biết cố gắng”. Em chúc cho đôi chân của cô luôn mạnh khỏe và chắc chắn để cô có thể đi cùng các thế hệ đến mãi mai sau. Và đôi tay của cô nữa, em chúc đôi tay ấy mãi dẻo dai để chèo lái con đò, đưa các bạn sau này đến chân lý của cuộc sống. Và cô ơi em chúc cô có đủ sức khỏe và khéo léo, giỏi giang để vừa là người phụ giỏi ngoài xã hội, vừa là người mẹ, người vợ đảm trong gia đình cô nhé.

    Cuối cùng em xin chúc cho tất cả các thầy các cô trên mọi miền của tổ quốc sức khỏe thật nhiều, niềm vui thật lớn, và càng ngày càng có nhiều cống hiến cho nền giáo dục nước nhà lớn mạnh.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 4

    “Thời gian trôi qua mau chỉ còn lại những kỉ niệm.

    Kỉ niệm thân yêu ơi, sẽ còn nhớ mãi tiếng thầy cô, bạn bè mến thương ơi, sẽ còn nhớ những lúc giận hờn.

    Để rồi mai chia xa, lòng chợt dâng niềm thiết tha

    Nhớ bạn bè, nhớ mái trường xưa….”

    Mỗi khi câu hát đó vang lên, trong lòng mỗi người đều dâng trào những cảm xúc về mái trường thân yêu nơi có những người thầy, người cô và bạn bè của chúng ta. Nơi mái trường mến yêu, chất chứa bao kỉ niệm tươi đẹp khó quên cùng hoài bão ước mơ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Đối với em, là một học sinh lớp 9, là năm cuối cùng còn lưu lại nơi ngôi trường cấp hai này có lẽ là quãng thời gian tươi đẹp, bui nhất từ trước tới nay mà em có. Dù còn bao tiếc nuối, dù còn bao việc chưa kịp thực hiện đã phải chia xa nhưng những kỉ niệm với nơi đây sẽ mãi khắc ghi trong lòng mỗi học sinh như chúng em. Dưới mái trường THCS ………thân yêu này, em đã lớn lên trong tình yêu thương, đoàn kết của thầy cô, bạn bè, học được bao điều mới mẻ, chắc chắn rằng chúng sẽ là hành trang giúp em vững chắc vào đời.

    Mỗi ngày đến trường đối với tôi thật sự là niềm vui, niềm hạnh phúc. Sáng sớm đứng trước cổng trường với dòng chữ trên biển “Trường THCS ……….” thật sự đẹp, là động lực vô cùng to lớn giúp chúng em học hành tốt hơn. Vào nơi sân trường rộng lớn, nhìn thấy bác bảo vệ hiền hậu đang dắt vài chiếc xe đạp chậm rãi khiến lòng tôi như cảm thấy vững trãi hơn, ấm áp hơn. Chắc hẳn nhắc đến bác bảo vệ, chúng ta không thể quên được những tiếng trống trường rộn rã mỗi giờ tan trường nhỉ.

    Có thể nói nơi tôi đang học tập trong trí tưởng tượng của tôi như một ngôi nhà thứ hai của tôi vậy. Nơi đây tôi thực sự gắn bó với một tình cảm vô cùng đặc biệt mà chắc hẳn chỉ tôi mới có thể cảm nhận được. Đây là một môi trường tốt để chúng tôi có thể thỏa sức học tập, kết bạn, tìm tòi, khám phá…. chúng tôi nhận được sự dạy dỗ, quan tâm chu đáo của mỗi thầy cô, mỗi thầy cô một cách dạy khác nhau nhưng ở họ luôn có chung một tình yêu thương dành cho học trò của mình. Những bài giảng luôn tràn đầy nhiệt huyết, ẩn chứa trong đó là đam mê, là yêu thương với từng bài giảng. Vì vậy chúng tôi luôn cảm thấy thú vị, đầy hứng khí khi được tiếp thu những kiến thức quý giá này. Ngoài tập trung chú trọng vào việc học, trường em còn tạo nhiều sân chơi bổ ích để học sinh có thể thể hiện tài năng ẩn náu của mình. Tôi vô cùng tự hào về học sinh trường tôi ngoài bề dày về thành tích học tập mà còn tham gia các hoạt động ngoại khóa vô cùng sôi nổi.

    Nhắc lại tập thể lớp tôi, lòng tôi lại như nở rộ hoa. Nhớ những ngày đầu, hầu như ai cũng nhút nhát, còn không dám nói chuyện. Đấy cũng chính là khoảng thời gian khó khăn nhất. Chưa quen bạn mới, trường mới, chưa tiếp xúc nhiều với phương pháp giáo dục từ một ngôi trường điểm, chúng tôi vô cùng lo sợ, hoang mang! Đấy vậy mà nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của cô Lương – giáo viên chủ nhiệm cũ của lớp chúng tôi, chúng tôi đã vượt qua quãng thời gian ấy một cách nhanh chóng. Sau bao năm như một gia đình luôn chia sẻ với nhau mọi điều thì ngày này cũng tới, cô chủ nhiệm chúng tôi phải nghỉ hưu giữa chừng, trao con thuyền A2 này cho cô Hoà chèo lái đến bờ cũng như bao cô giáo khác, ban đầu chúng tôi cảm thấy sự lạ lẫm, khoảng cách với cô chủ nhiệm mới. Nhưng tính tình cô Hòa lại rất đáng yêu và luôn chủ động tâm sự mọi điều, lắng nghe mọi điều mà chúng tôi giãi bày. Dần dần, khoảng cách vô hình ấy đã tan biến từ lúc nào không ai hay chỉ còn một năm nay chúng tôi được ở bên cạnh cô, bên cạnh bạn bè. Cái cảm giác xa và cô đơn lại ùa về mỗi khi nghĩ về khoảng thời gian ấy. Chẳng biết từ bao giờ họ đã quan trọng với tôi như thế, giống như không thể tách rời.

    Chỉ còn một học kì nữa thôi là tôi và các bạn sẽ phải rời xa nơi chúng tôi luôn coi như mái nhà thứ hai này để đến với một ngôi trường mới. Trong tôi dường như vẫn còn đang còn đọng lại y nguyên kí ức lần đầu tôi bước chân vào ngôi trường này. đi cùng với kỉ niệm ngày đầu tiên đó là những kỉ niệm với trường, lớp, với bạn bè, thầy cô mà tôi sẽ không bao giờ quên được. Dù vẫn còn vô vàn nuối tiếc nhưng tôi vẫn phải bước tiếp trên chặng đường còn dang dở của mình. Tôi sẽ phải nỗ lực học tốt, đạt kết quả cao trong học tập để không phụ công dạy dỗ của thầy cô và mái trường THCS …………. dành cho tôi. Lời cuối cùng tôi chỉ muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ngôi trường, tới các thầy cô đã nuôi nấng, dạy dỗ tôi để tôi được trưởng thành như ngày hôm nay.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 5

    Trong quãng đời học sinh, không ai là không có một vài kỉ niệm, dù đó là kỉ niệm vui hay buồn. Riêng tôi, tôi không thể nào quên kỉ niệm giữa tôi và cô Cườm – cô giáo chủ nhiệm tôi hồi lớp 6. Đến bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn thấy xúc động nghẹn ngào.

    Ngay từ lần đầu gặp cô, đó là ngày đầu tiên đi nhận lớp 6, cô Cườm đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc. Lúc cô bước vào lớp, cả lớp im phăng phắc, không có một tiếng động khác hẳn với lúc ban đầu, không hiểu tại sao nhưng qua hành động, lời nói, tôi biết cô rất nghiêm khắc, mặc dù khuôn mặt cô không hề nói lên điều đó.

    Cô có mái tóc xoăn, cái chàm ở thái dương và chiếc cổ kiêu ba ngấn thật ấn tượng. Đó là những điều mường tượng duy nhất của tôi khi đó. Tuy nghiêm nghị nhưng cô rất quan tâm đến học sinh. Suốt tiết học đầu tiên, cô vừa giảng vừa đến giúp đỡ một số bạn học kém. Điều đó làm tôi bớt sợ hãi và thấy cô trở lên gần gũi đáng mến.

    Càng dần vào năm học, tôi càng nhận ra cô không phải là một người quá nghiêm nghị. Với cảm nhận của riêng tôi cô thật hiền từ, đôn hậu nên khoảng cách giữa cô và tụi học trò chúng tôi càng gần gũi, nhất là giữa tôi và cô đã có một kỉ niệm sâu sắc.

    Đó là vào một buổi chiều mùa hạ, trời mưa tầm tã, bầu trời xám xịt, những hạt mưa nặng trĩu rơi lộp độp xuống mái hiên. Các lớp đã tan, mọi người vội vã ra về , người thì có áo mưa, người thì được cha mẹ đưa đón, kẻ lại chịu đày mưa giữa trời. Riêng tôi thì đứng nép ở cửa hàng của một bà cụ. Mưa mãi không ngớt, tôi bắt đầu thấy lo lắng. Tôi băn khoăn: chẳng lẽ lại đội mưa mà về? Tôi nghĩ vậy rồi đánh liều chạy một mạch ra ngoài giữa lúc trời đang mưa to. Bỗng có tiếng gọi “Linh ơi!” nghe rất giống tiếng cô Cườm. Tôi ngoảnh mặt lại, đúng là cô thật.
    Thấy tôi cô nói:

    Trời mưa to lắm, lại không có áo mưa, lên xe cô chở về.

    Tôi chần chừ giây lát, vừa muốn đi vừa không vì sợ làm phiền cô, như đoán được ý nghĩa ấy của tôi cô giục:

    Nhanh lên kẻo cảm lạnh bây giờ.

    Tôi vội vã lên xe. Trong lần áo mưa ấm áp, tôi cảm nhận đựoc tình yêu thương, sự quan tâm của cô dành cho tôi, tình cảm ấy như ngọn lửa sđang rực cháy trong lòng.

    Nhưng cũng tại cái tính ích kỉ đáng ghét của tôi. Lúc đó tôi chỉ nghĩ mình đang được khô ráo, ấm áp mà không hề để ý đến cô, cô đã nhường áo mưa cho tôi đang lạnh cóng rét buốt. Cái áo mưa của cô nhỏ chỉ đủ cho một người, có tôi đi cùng, cô gàn như bị ướt đẫm. Khi về đến nhà, sắc mặt của cô tái xanh, cô thở hổn hển, thế mà tôi còn hỏi một câu ngớ ngẩn:

    Cô bị làm sao thế ạ?

    Cô nói là không sao và bảo tôi về nhà nhớ soạn bài đầy đủ để mai có người dự giờ. Cô mệt mỏi như vậy mà vẫn quan tâm đến tôi ư? Tôi vừa muốn khóc vừa ân hận và cái tính lơ đễnh của mình. Giá như lúc đó mình cứ chạy một mạch thì cô đâuc ó bị ngấm nước mưa rồi bị cảm. Suốt buổi tối hôm đó, tôi không thể ngồi yên, cứ thấp thỏm, không biết cô đã đỡ chưa.

    Sáng hôm sau đi học tôi không thấy cô ở lớp, cô không đi dạy, có lẽ cô đã bị ốm. Cả buổi học hôm đó, tôi không thể tập trung. Tôi vừa lo lắng, vừa sợ, lòng rối bời. Sau buổi tan học tôi quết định đến nhà cô để xin lỗi cô, tiện thể thăm cô luôn. Ngõ vào nhà cô sâu hun hút, tôi phải vất vả lắm mới tìm ra. Tôi vào nhà, thấy tôi, cô gượng dậy:

    Linh đấy à? Vào đây em!

    Tôi vội chạy đến đỡ cô, cô nói:

    Xin lỗi em nhé, chắc em lo lắng lắm?

    Tôi run rẩy lắp bắp:

    Không, không người xin lỗi phải là em mới đúng, vì em mà cô bị cảm.

    Khi đó, tôi thật sự xúc động, tôi ôm chầm lấy cô, mắt tôi cay cay, tôi cảm nhận được tình cảm của cô dành cho tôi cũng như cho bao bạn khác. Chưa bao giờ tôi thấy mình hạnh phúc như lúc này.

    Từ tận đáy lòng, tôi cám ơn cô rất nhiều. Nhờ có cô tôi mới có đựoc một bài học về tình thầy trò thật thấm thía. Và cũng từ cô tôi mới hiểu được một nhà giáo phải vừa có đức, vừa có tài, phải lao tâm khổ tứ, hi sinh nhiều lắm cho lớp lớp học trò.

    Cảm ơn cô, cảm ơn người mẹ thứ hai của tôi, người đã giúp đỡ dạy bảo tôi từ những điều nhỏ nhặt nhất. Tôi thật hạnh phúc và tự hào khi có được một “người lái đò” đáng kính như cô.

    >> Tham khảo: Kỉ niệm về mái trường Tiểu học

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 7

    Thời gian cứ thế trôi qua như thoi đưa, vậy là thấm thoắt đã mười hai năm học sắp trôi qua. Đứa trẻ ngày nào còn khóc lóc, đứng sau lưng mẹ trong ngày đầu tiên cắp sách đến trường. Giờ đây đã sắp phải nói lời chia tay với mái trường, với thầy cô, bạn bè và cũng chia tay luôn cả hai chữ “học sinh” của bản thân mình.

    Vậy đấy, thời gian trôi qua có bao giờ trở lại, suốt những năm tháng qua gắn bó với “thầy cô và mái trường” nơi đã để lại cho tôi biết bao nhiêu kỉ niệm của một thời không thể nào quên. Chỉ còn vài ngày nữa thôi là đến ngày 20/11– ngày Nhà Giáo Việt Nam, cũng là ngày cuối cùng “tôi” của thời học sinh được bên mái trường, thầy cô và bạn bè nơi đây tại mái trường mang tên THPT chuyên Lê Quý Đôn – ngôi nhà thứ hai nơi tôi đã gắn bó.

    Bài viết về thầy cô và mái trường

    Bất chợt những kỉ niệm trong tôi chợt ùa về một cách rõ nét hơn bao giờ hết đưa tôi trở về những ngày tháng còn là một đứa học sinh lớp 9. Nhớ ngày nào ngôi trường mang tên chuyên Lê Quý Đôn còn quá xa lạ với tôi, ngôi trường mơ ước của biết bao lứa học sinh như tôi. Có lẽ ấn tượng đầu tiên về ngôi trường chuyên Lê Quý Đôn này phải kể đến “con dốc” vừa dài, vừa cao vời vợi hiện ra trước mắt. Biết bao lần đứng dưới chân dốc trường nhìn lên, nơi một chân trời mới sắp mở ra trước mắt tôi. Leo lên hết con dốc ấy, lần đầu tiên đứng ở cổng trường học nhìn vào trường, tôi đã hét thật to như để thỏa mãn sự sung sướng, thích thú xen lẫn tò mò của bản thân mình về trường,… Thật sự, trước khi trở thành một thành viên trong ngôi nhà chung chuyên Lê Quý Đôn, tôi đã dành một tình yêu trọn vẹn cho ngôi trường này. Để rồi cảm xúc như vỡ òa khi biết mình đã trở thành một thành viên bé nhỏ trong ngôi nhà chung. Có thể tôi quá lan man nhưng có lẽ những kỉ niệm đầu tiên về ngôi trường luôn là những kí ức theo ta đi suốt cuộc đời. Kỉ niệm với ngôi trường này nhiều lắm kể làm sao cho hết, thời gian gắn bó với ngôi trường trong suốt quãng thời tuổi thanh xuân cấp ba của tôi còn nhiều hơn là khoảng thời gian ở nhà. Ngôi trường gắn bó với tôi cả lúc vui lẫn lúc buồn. Nào là những ngày học thêm sớm tối cùng bạn bè ăn ở căng tin của trường. Nào là những ngày lao động, trực tuần mệt nhoài. Nào là những ngày trời lạnh rét run người vẫn đến trường học thêm ca lỡ đến tám giờ tối mới về. Nào là những ngày trời mưa… Đâu đây trong tôi những ngày lang thang khắp các ngõ ngách của trường không khác gì những nhà thám hiểm mở rộng tầm mắt đến những vùng đất mới. Thật nhiều, thật nhiều những kỉ niệm nơi đây.

    “Một đời người – một dòng sông…

    Mấy ai làm kẻ đứng trông bến bờ,

    “Muốn qua sông phải lụy đò”

    Đường đời muôn bước cậy nhờ người đưa … “

    (Người lái đò)

    Nếu cha mẹ là người đã sinh ra ta, đưa ta đến với cuộc đời này thì thầy cô là người cha, người mẹ thứ hai đã dạy cho ta kiến thức, truyền đạt cho ta biết bao điều hay lẽ phải về kĩ năng sống, giúp ta nên người. Quả đúng như lời thơ, có mấy ai đi suốt cuộc đời mình mà không có người thầy, người cô dẫn lối. Có mấy ai trưởng thành mà không phải trải qua những ngày tháng học sinh, ngồi trên ghế nhà trường nghe thầy cô giảng bài. Thầy cô – những người lái đò tận tụy hết lòng với nghề, với mỗi lứa học sinh của mình. Làm sao có thể lớn lên, có thể trưởng thành mà không có thầy cô ở bên dạy dỗ, dẫn đưa. Thầy cô giống như những cây chỉ nam, những ngọn hải đăng giúp ta định vị, tìm thấy hướng khi đi lầm đường, lạc lối. Thầy cô giống như ngọn lửa ấm áp, dìu dắt chúng em trước những vấp ngã của cuộc đời. Tiếng thầy cô giảng bài hăng say trên lớp vẫn văng vẳng đâu đây. Rồi là những nụ cười khi thấy những đứa học sinh của mình đạt điểm cao, đạt nhiều thành tích cao trong học tập, đang dần trưởng thành theo năm tháng. Rồi là những giọt nước mắt đượm buồn khi thấy học sinh của mình bị điểm kém, không nghe lời, lười học, …” Người Thầy vẫn lặng lẽ đi về sớm trưa. Dòng đời từng ngày qua êm đềm trôi mãi. Người Thầy vẫn lặng lẽ đi về dưới mưa, ngày ngày giọt mồ hôi rơi đầy trang giấy.” Mặc cho người ta ngập chìm trong những lo toan, tính toán chuyện cơm áo lợi danh, chuyện bán mua cả tình cảm, cả trí tuệ. “Thầy vẫn đứng bên bờ ước mơ. Dù năm tháng sông dài gió mưa còn ai nhớ ai quên con đò xưa… Dù năm tháng vô tình trôi mãi, tóc xanh bây giờ đã phai, Thầy vẫn đứng bên sân trường năm ấy, dõi theo bước em trong cuộc đời, vẫn những khi trời mưa rơi, vẫn chiếc áo xưa sờn vai, thầy vẫn đi buồn vui lặng lẽ. Dù năm tháng vô tình trôi mãi mãi, có hay bao mùa lá rơi, Thầy đến như muôn ngàn tia nắng, sáng soi bước em trong cuộc đời. dẫu đếm hết sao trời đêm nay, dẫu đếm hết lá mùa thu rơi, nhưng ngàn năm làm sao em đếm hết công ơn người Thầy.” Những lời bài hát đã nói lên hết những gì cần nói, … Thầy cô với những ước mơ, những yêu nghề cháy bỏng luôn thực hiện thiên trách của mình là dạy dỗ học sinh nên người. Mỗi lần nghe thầy cô giảng bài, thỉnh thoảng nhìn lên gương mặt ấy tôi lại thấy mỗi ngày trôi qua trên gương mặt ấy lại hằn lên những nếp nhăn, những cái tóc bạc theo năm tháng, tôi lại thấy buồn đến lạ. Có lẽ, chỉ có sự cố gắng nỗ lực, chăm chỉ, lấy kết quả học tập của mình để bù đắp cho công ơn thầy cô, cho những gì mà thầy cô đã dành trọn vẹn nửa đời người cho nghề giáo. Ngày 20/11 đang đến gần, có thể nhiều người sẽ đem tặng thầy cô của mình những bó hoa to, lộng lẫy. Những món quà đắt tiền. Hay những món đồ mua vội vã trong các cửa tiệm. Nhưng với tôi, không có gì có thể thay thế bằng những lời chúc, ngồi bên thầy cô trò chuyện về những kỉ niệm một thời gắn bó, bởi chỉ có tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim mới đến được trái tim. Một lần nữa tôi xin chúc thầy cô- những người lái đò tận tụy của mình sức khỏe dồi dào, công tác tốt,… để dẫn đưa những lứa học sinh của mình qua sông.

    Tôi phải cảm ơn, cảm ơn thật nhiều tới ngôi nhà chung chuyên Lê Quý Đôn và những người thầy, người cô hết lòng vì học sinh của mình bằng một tình cảm trọn vẹn nhất. Có lẽ, mái trường và thầy cô nơi đây là một mảnh ghép trong cuộc đời tôi mà có đi đến đâu, dù thời gian có trôi qua nhiều biết mấy, phủ bụi và xóa nhòa đi tất cả thì tình cảm dành cho mái trường và thầy cô nơi đây vẫn luôn đong đầy và trọn vẹn.

    Mẫu bài viết hay về thầy cô và mái trường

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 8

    Mái trường – Ngôi nhà thứ hai luôn là nơi lưu lại những dấu ấn đáng nhớ nhất cuộc đời mỗi con người. Ở nơi đó, thầy cô là cha mẹ, bạn bè là anh em gắn bó với nhau như ruột thịt và cùng nhau tạo nên những kỉ niệm khó phai. Suốt những năm tháng cắp sách đến trường, chắc hẳn ai cũng có ấn tượng với một thầy cô giáo nào đó. Những người để lại cho ta kinh nghiệm suốt đời hay vực ta đứng dạy từng những nơi tối tăm, hay đơn giản là cách giảng bài sâu sắc mà không sao quên được. Tôi cũng vậy, suốt ba năm phổ thông cô Hưng dạy văn là người tôi nhớ nhất. Viết về hình tượng cô giáo ngay từ bé chúng tôi đã được nhào nặn trong trí tưởng tượng đó là cô giáo với mái tóc đen dài bóng mượt, cặp gọn gàng bằng một chiếc kẹp giản dị, da trắng môi đỏ, luôn mặc áo dài thướt tha và dáng đi khoan thai, nhẹ nhàng. Với tôi, chắc chắn đó là cô giáo bước ra từ giấc mơ. Ngày đầu ngỡ ngàng bước vào lớp mười, buổi đầu tiên gặp gỡ, cô bước vào lớp với cặp kính râm to đen, chúng tôi có chút nhốn nháo và bất ngờ, cô hóm hỉnh giải thích: “Buổi đầu chào cả lớp mà cô giống mafia quá, cô xin lỗi các em nhưng nếu bây giờ cô bỏ kính ra thì cả lớp chắc không ai học được vì sợ vừa vì cười đấy. Cô bị ngã xe, lớp thông cảm cho cô nhé!” và kèm theo đó là nụ cười rạng rỡ. Tôi cũng phát hiện ra rằng không phải cô giáo dạy văn nào cũng có giọng nói ngọt như mía lùi hay lanh lảnh như chim hót. Cô Hưng giọng khá trầm và khàn nhưng chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy ngao ngán với tiết văn của cô. Ngày đầu tiên ấy, cô còn giới thiệu và kể thêm vài câu chuyện vui về “cái tên giông tên con trai” của cô. Vậy là giờ dạy mở màn, cô đã đốn tim trọn vẹn bốn mươi lăm thành viên 10 A3, đặc biệt là tôi, cảm nhận được một tâm hồn đồng điệu. Nhắc đến cô giáo, người ta luôn mường tượng ra sự ân cần, nhè nhàng, dạy dỗ chỉ bảo tận tình, sự nhiệt huyết và yêu trẻ. Cô Hưng cũng không phải ngoại lệ. Nhưng điều đặc biệt hơn cả, cô là người rất cá tính và hiện đại. Cô luôn có cách lôi kéo chúng tôi không thể dời khỏi lời giảng của cô một giây phút nào. Cô vẫn giữ những nét truyền thống của một nhà giáo, không sai lệch về tư tưởng, đạo đức nhưng cô cũng không quên bỏ vào đó một chút cái tôi cá nhân riêng để học sinh có thể nhớ về cô mãi. Ông nội tôi trước đây là một nhà Nho dạy chữ Hán vì vậy ông rất thích con cháu nối nghiệp ông. Mỗi lần về thăm quê, ông lại thủ thỉ với tôi: “Làm giáo viên con nhé! Tôi chỉ biết mỉm cười và lẳng lặng gật đầu”. Tôi yêu trẻ nhưng nóng tính mà ngành giáo luôn cần sự kiên nhẫn và tôi đã tự nhủ rằng “không bao giờ mình thi sư phạm”. Nhưng rỗi mỗi tiết văn của cô lại truyền thêm cho tôi cảm hứng. Tôi sẽ đứng trên bục giảng, thổi hồn vào từng câu chữ và học sinh sẽ quý mến tôi như chứng tôi kính trọng, yêu quý cô bây giờ. Tôi sẽ niềm nở, hài hước và thân thiện giống cô. Tôi sẽ dạy cho những đứa con thứ hai của tôi không chỉ tri thức mà còn cả cách làm người, cách yêu thương cuộc sống, cách gieo lòng nhân hậu với những con người ra chưa từng biết, chưa từng gặp qua mỗi trang sách giống như cô dạy chúng tôi trong mỗi tiết học. Cô Hưng mang dáng dấp của người phụ nữ hiện đại nhưng cũng không quên đi nét truyền thống trong mình. Không phải phóng đại, nhưng cô là người phụ nữ giỏi việc nước, đảm việt nhà. Cô luôn nhiệt tình tham gia các hoạt động Đoàn trường, nhiều năm đạt danh hiệu Giáo viên xuất sắc. Năm học 2020 – 2021, lần đầu tiên cô bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 mang lại thành tích rực rỡ như thế: Ba giải nhì, một giải ba và một giải khuyến khích, đứng nhất tỉnh năm đó. Ở nhà, hai con của cô luôn là những con ngoan trò giỏi. Hai em luôn dạt danh hiệu học sinh giỏi qua từng năm học. Niềm vinh dự hơn cả là con trai cô từng đạt giải học sinh tỉnh lớp 5. Cô là người giữ lửa và ngọn lửa ấy luôn bùng cháy trong gia đình nhỏ hạnh phúc của cô.Tôi đang cảm nhận từng ngày trọn vẹn khi còn là học sinh, khi còn được ngồi trên ghế nhà trường. Và tôi không thể nào quên những kỉ niệm thời áo trắng bên bạn bè, trang sức cùng hình ảnh người cô miệt mài bên giáo án. Người đã truyền dạy cho tôi bao tri thức, bao ước mơ và hi vọng – Cô Hưng.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 9

    Thời cắp sách tới trường là khoảng thời gian đẹp nhất, thời của tuổi mộng mơ, của những ý tưởng vụt đến rồi vụt đi, của cả sự ngỗ nghịch. Ngày bé, cứ ngỡ chỉ có bố, có mẹ là yêu thương ta hết mực. Đến tuổi đi học, ta nhận ra còn có những người cha, người mẹ của hơn 35 đứa con đang đến tuổi ẩm ương. Họ từng bước dạy ta nên người, dạy kiến thức, dạy cuộc sống, dạy ta biết ta phải làm gì trong cuộc đời khó khăn này. Cô Hương Giang – giáo viên chủ nhiệm tôi 3 năm học ấy đã cho tôi biết được những điều quý giá ấy.

    Ngày mới vào trường bỡ ngỡ, người đầu tiên tôi được tiếp xúc là cô. Vẻ điềm tĩnh của cô trong lần đầu gặp mặt ấy đến giờ còn nguyên trong tâm trí tôi. Cô cười tươi lắm. Nhận đám học sinh mới mà thấy hình như cô đã coi chúng tôi như con ruột. Là lớp chuyên văn, cô biết và hiểu được tâm lý của những đứa con gái mới lớn: điệu đà. Cô ủng hộ chúng tôi làm đẹp, song lại chỉ trong khuôn khổ cô cho phép. Nghiêm khắc là điều tiếp theo tôi thấy được trong con người cô. Tôi chưa thực sự hiểu thế nào là lo sợ cho đến khi mắc lỗi và đứng trước mặt cô. Cô nghiêm khắc ! Vì hiểu là sai nên cô nghiêm khắc. Chúng tôi không lần nào phạm một lỗi hai lần bởi không ai dám đối diện với sự trừng phạt của cô. Đó là chuyện trên lớp. Trong cuộc sống thường ngày, khi phải đối diện với khó khăn. Điều tôi nghĩ đến đầu tiên là ”Nếu là cô, cô sẽ làm gì”. Dường như mọi vấn đề đều ổn thỏa khi có cô bên cạnh. Lời khuyên, cách giải quyết hay đơn giản chỉ là lời động viên của cô luôn đem lại kết quả không thể tưởng. Khó khăn không còn là khó khăn, nó trở thành bài học cuộc sống để cô dạy chúng tôi cách đối diện. Dạy cho chúng tôi biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã bởi cuộc sống đâu phải là một chuỗi êm đềm, bằng phẳng mà nó có rất nhiều ngã rẽ

    Cô còn dạy cho chúng tôi biết yêu thương, chia sẻ với những người bất hạnh. Biết cảm thông, biết trân trọng những điều quý giá qua từng trang sách,từng bài văn.

    Tôi luôn cảm thấy mình may mắn vì được làm học sinh của cô trong suốt những tháng năm cấp ba. Có lẽ cô là báu vật vô giá mà đám học sinh chuyên văn lớp tôi được nhận. Tôi luôn nhớ, luôn trân trọng từng khoảnh khắc đẹp đẽ được bên cô, bên lớp.

    Không chỉ cô Giang, mà tất cả thầy cô, họ đều là những điều đẹp nhất làm nên tuổi học trò, làm nên một thời áo trắng tinh khôi đáng nhớ.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 10

    “Khi thầy viết bảng
    Bụi phấn rơi rơi
    Có hạt bụi nào
    Rơi trên bục giảng
    Có hạt bụi nào
    Vương trên tóc thầy…”

    (Bụi phấn)

    Trong cuộc đời mỗi người, có lẽ những kí ức về tuổi học trò là đáng nhớ nhất. Và đối với tôi, những năm tháng được gắn bó với mái trường cấp 2 (tên trường) thật sự đẹp đẽ.

    Tôi còn nhớ như in kỷ niệm về ngày đầu tiên khai trường đầy bỡ ngỡ của một học sinh lớp 6. Trong bộ trang phục đã được mẹ giặt sạch sẽ. Tôi đeo chiếc cặp mới và đạp xe tới trường. Chiếc xe đạp là phần thưởng mà bố hứa sẽ tặng tôi nếu thi đỗ. Đúng 7 giờ, tôi cùng với Hoa – cô bạn thân từ thuở còn là học sinh cấp một, đạp xe đến trường. Khi đến nơi, tôi cảm thấy thật bồi hồi. Tôi thầm nghĩ đây sẽ là ngôi trường mà mình gắn bó suốt những năm tháng học cấp 2.

    Ngôi trường vào ngày khai giảng hôm đó đối với tôi thật khác lạ. Sân trường được quét dọn sạch sẽ và được phủ đầy các hàng ghế dành cho học sinh. Phía trên sân khấu, dòng chữ: “Lễ khai giảng năm học 2020 – 2021” được in chính giữa tấm băng rôn trông vô cùng nổi bật. Nhiều học sinh đã nhanh chóng ổn định vào chỗ ngồi.

    Đúng bảy giờ ba mươi phút, lễ khai giảng chính thức bắt đầu. Một hồi trống giòn giã vang lên. Chúng tôi bắt đầu lễ diễu hành. Không khí tưng bừng, rộn rã. Khi đi qua sân khấu, tôi có cảm giác như các thầy cô đang nhìn chúng tôi. Điều ấy khiến tôi cảm thấy thật hồi hộp. Sau khi buổi lễ diễu hành kết thúc, cả trường ổn định để tiến hành nghi thức chào cờ vô cùng nghiêm trang. Lần lượt là những lời phát biểu của thầy hiệu trưởng, các tiết mục văn nghệ diễn ra. Đặc biệt, tôi vô cùng vinh dự khi được đại diện cho toàn thể học sinh khối lớp 6 lên phát biểu cảm nghĩ. Lúc mới bước lên sân khấu, tôi cảm thấy vô cùng hồi hộp, thậm chí còn không dám nhìn xuống dưới sân trường. Đây là lần đầu tiên tôi đứng trước nhiều người như vậy. Thật may mắn, tôi nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh. Bài phát biểu cũng diễn ra vô cùng trôi chảy. Sau lời phát biểu của mình, tôi đã nhận được tiếng vỗ tay của toàn trường. Kỉ niệm về buổi khai trường đầu tiên của năm học cấp 2 đã để lại cho tôi rất nhiều cảm xúc đẹp đẽ. Mà sau này, dù có trải qua nhiều lễ khai giảng nhưng tôi vẫn nhớ về ngày hôm đó như một kí ức quan trọng của tuổi học trò.

    Suốt những ngày tháng sau này, tôi đã trải qua thật nhiều kỉ niệm bên mái trường thân yêu. Đó là những giờ học tập miệt mài trên lớp học. Lời thầy cô giảng vẫn còn vọng lại trong ký ức. Những công thức toán học, những tác phẩm văn học, những sự kiện lịch sử, những môn thể thao… mà chúng tôi đã học được đều nhờ có sự dạy dỗ tận tình của thầy cô. Nhưng không chỉ là bài học về kiến thức mà còn là những bài học làm người. Tôi vẫn nhớ đến hình ảnh cô giáo chủ nhiệm – người đã truyền ngọn lửa nhiệt huyết để chúng tôi nỗ lực học tập. Khuôn mặt nghiêm khắc và giọng nói trầm ấm. Lời động viên của cô đã khiến những học trò cuối như chúng tôi lúc đó có thêm sức mạnh vượt qua kì thi chuyển cấp quan trọng. Đó còn là những giờ giải lao cùng bạn bè vui chơi. Lớp học của tôi đã trở thành một tập thể đoàn kết vững mạnh. Những người bạn thân thiết đã gắn bó cùng nhau suốt bốn năm liền với thật nhiều kỉ niệm, vui có buồn có, nhưng không thể nào ghi nhớ hết. Tôi nghĩ rằng, trong tương lai, dù chúng tôi có phải xa cách nhau, thì vẫn nhớ đến nhau với những điều tốt đẹp nhất…

    Có thể nói rằng, những năm tháng dưới mái trường cấp 2 đã trôi qua thật ý nghĩa. Tôi sẽ luôn ghi nhớ trong tim những kỉ niệm đẹp đẽ bên bạn bè, thầy cô và mái trường thân yêu này.

     

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 11

    Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta gọi mái trường là “ngôi nhà thứ hai” của mỗi con người. Bởi ở đó chúng ta được tiếp nhận tri thức, được rèn luyện đạo đức, nó còn là nơi gieo mầm ước mơ, biến ước mơ thành hiện thực, cho ta cảm nhận được tình thầy trò, bạn bè khăng khít. Và với tôi, Trường THPT ……… chính là mái nhà thứ hai để tôi tựa vào.

    Ai mà chẳng yêu quý mái trường nơi mình học tập, tôi cũng vậy. Nhưng không chỉ là sự yêu quý, gắn bó, trong tôi còn là cả sự tự hào về mái trường THPT ………, về những thành tích của trường trong suốt 55 năm qua.

    Trường tôi được thành lập vào tháng 9 năm 1961- là một trong những ngôi trường cấp III đầu tiên của Tỉnh Thái Bình.

    Trường ban đầu chỉ là lán tranh, mái ngói nằm cạnh bờ hồ Nguyễn Công Trứ với tên gọi là Trường cấp II, III Tiền Hải. Sau này tách làm hai hệ riêng biệt, trường chuyển đến khu mới nằm cạnh quốc lộ 39, đường Nguyễn Công Trứ, khu 3 thị trấn Tiền Hải- huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình. Từ một ngôi trường cấp III chỉ vẻn vẹn có hai ngôi nhà lợp ngói thì đến nay, trường đã có 38 phòng học đúng quy cách, 4 phòng máy vi tính với 90 máy. Quy mô đào tạo rất nhanh, từ khoá học đầu tiên 1961- 1962 khai giảng chỉ với 203 học sinh, trải qua 55 khoá học nay lên tới gần 2000 học sinh cho cả 3 khối 10, 11 và 12.

    55 năm là cả chặng đường dài mà các thế hệ giáo viên và học sinh trường THPT ……… không ngừng phấn đấu, nỗ lực để xây dựng trường hoàn thiện, có được những thành tích rất đáng tự hào như: Bằng khen Chính Phủ năm 1996, 2009; huân chương lao động hạng nhì năm 2011; năm 2010- 2011 trường được công nhận là trường chuẩn Quốc gia và đặc biệt là bằng khen của Chính Phủ năm 2015.

    Có được những kết quả tốt đẹp như thế công sức lớn nhất phải kể đến các thầy cô giáo nơi đây- những người đã đem con chữ truyền dạy cho bao thế hệ học trò. Ở trường THPT ……… có tới 52,5% giáo viên từng là học sinh của trường, các thầy cô đều là những người có trình độ, chuyên môn cao, đặc biệt là lòng nhiệt tình, tâm huyết, tình yêu đối với nghề dạy học cao quý. Ba năm được học tập dưới mái trường này, tôi không chỉ được học bài học tri thức mà còn học được rất nhiều bài học đạo đức từ các thầy cô. Bề ngoài trông thầy cô có vẻ nghiêm khắc nhưng tôi luôn cảm nhận được tình yêu thương của thầy cô đối với học sinh, sự tâm huyết dồn vào những bài giảng để mong chúng tôi có thể hiểu bài một cách tốt nhất. Tôi hiểu được rằng yêu thương không nhất thiết phải thể hiện ra bằng những lời nói hoa mĩ mà nó có thể được thể hiện bằng những hành động âm thầm không phô trương, tô vẽ. Nếu như người kỹ sư vui mừng khi nhìn thấy cây cầu mà mình mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa trĩu bông thì người giáo viên hạnh phúc khi nhìn thấy học trò đang trưởng thành, lớn lên.

    Ba năm so với cả đời người là ngắn ngủi nhưng nó lại là tất cả đối với cuộc đời học sinh. Tôi cảm giác như tất cả mọi kỷ niệm mới chỉ diễn ra ở ngày hôm qua, kỷ niệm về cái ngày đầu tiên đi học tại mái trường này. Có người nói rằng, kỷ niệm ngày đầu tiên bước vào lớp 1 là kỷ niệm khó quên nhất trong quãng thời gian ngồi trên ghế nhà trường. Nhưng đối với tôi, ngày đầu tiên đi học tại mái trường THPT ……… mới là kỷ niệm tôi không bao giờ có thể quên. Vì sao ư? Vì ngày vào lớp 1 đã diễn ra quá lâu để tôi có thể nhớ trọn vẹn cảm giác rụt rè, bỡ ngỡ, còn kỷ niệm ngày đầu vào lớp 10 lại quá sâu sắc và đặc biệt. Đó là niềm vui khi biết mình đỗ vào mái trường này, niềm háo hức mong chờ từng ngày để được đi khai giảng, hồi hộp khi khoác lên mình chiếc áo trắng có in lôgô, phù hiệu của trường. Ngày trước khi còn học cấp II, mỗi khi bắt gặp các anh chị mặc áo có in lôgô Trường THPT ………, trong tôi dâng lên một cảm xúc vô cùng ngưỡng mộ, tôi hiểu họ đều phải nỗ lực rất nhiều để được học tập ở mái trường này. Với tôi, ba năm mặc đồng phục nhà trường, trong tôi chưa bao giờ nguôi cảm xúc tự hào. Lôgô không chỉ là biểu tượng của một ngôi trường mà nó còn chứa rất nhiều ý nghĩa. Lôgô trường tôi có màu sắc tươi tắn, thanh nhã, hài hoà với màu sắc chủ đạo là màu xanh- màu hoà bình, màu của những ước mơ và ……… sẽ là nơi ươm mầm những ước mơ ấy. Nổi bật trên nền xanh là hình ảnh ngọn đuốc và quyển vở- biểu tượng của niềm tin, gợi những khát khao chinh phục những đỉnh cao tri thức của lớp lớp thế hệ học sinh ……….
    Thời gian thấm thoắt thoi đưa, bây giờ tôi đã là học sinh lớp 12. Tôi biết mình chẳng thể nắm giữ nổi thời gian nhưng tôi vẫn ước thời gian có thể trôi chậm lại để tôi có thể lưu giữ thêm nhiều kỷ niệm tại mái trường này. Tôi nhớ về rặng phi lao sau trường- nơi luôn là điểm hẹn lý tưởng để tránh nắng, tránh nóng trong những giờ học giáo dục thể chất. Tôi yêu lắm sân trường này, mỗi khoảng đất, mỗi chiếc ghế đá đều in dấu những kỷ niệm đẹp của tôi cùng các bạn. Nhớ về dãy nhà A, B, D, những dãy hành lang luôn tràn đầy tiếng cười của các bạn học sinh. Biết rồi ai cũng sẽ phải lớn, phòng học sớm muộn cũng sẽ dành cho các em khoá sau nhưng thật không muốn rời xa thời nô đùa nghịch ngợm này.

    Có những lúc tôi nghĩ về 5 năm sau, 10 năm sau khi tôi quay trở lại thì trường trông sẽ khác như thế nào? Chắc chắn là cảm giác vừa lạ, vừa quen. Lạ vì qua từng ấy năm, trường sẽ có những thay đổi như cơ sở hạ tầng khang trang hơn chẳng hạn. Còn quen vì đó là nơi tôi đã gắn bó suốt ba năm trời, làm sao dễ quên nơi mà tôi coi như ngôi nhà thứ hai vậy. Tôi từng quen rất nhiều người là cựu học sinh trường Tây, rất lạ là khi nói chuyện với tôi, họ đều dành cho tôi câu hỏi “ Trường Tây dạo này thế nào rồi?”. Một câu hỏi tưởng chừng chỉ là xã giao bình thường thôi nhưng tôi nhận ra trong ánh mắt họ là cả sự quan tâm, nhớ về nơi mà họ từng gắn bó. Tôi thoáng tưởng tượng ra mình khi đã ra trường, trở thành cựu học sinh ……… rồi cũng sẽ giống họ. Mỗi khi đi trên đường nhìn từng tốp học sinh mang phù hiệu ………, tôi lại bắt gặp hình ảnh mình trong số đó, sẽ lại nhớ về quãng thời gian học tập dưới mái trường này, sẽ có thói quen hỏi thăm về trường, quan tâm tới những đổi thay nơi đây. Tôi nhớ có một lần tôi khoe với các anh chị cựu học sinh về lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập trường, họ tỏ ra nuối tiếc, ghen tị và nói tôi thật là may mắn vì có cơ hội được dự một sự kiện trọng đại như thế, không chỉ là các anh chị cựu học sinh mà còn cả các em lớp 8, lớp 9 học ở các trường trung học cơ sở, khi được nghe về lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập trường ……… cũng tỏ ra nuối tiếc vì không có cơ hội tham dự sự kiện long trọng như thế. Các em nói với tôi rằng, dù có hối tiếc nhưng sẽ càng phải cố gắng hơn trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 để có thể đỗ vào ………, với các em đó chính là niềm mong ước lớn nhất lúc này. Nghe được những lời tâm sự của mọi người, tôi càng cảm thấy mình thật may mắn vì lễ kỷ niệm không chỉ là dấu mốc đặc biệt chứng minh cho chặng đường 55 xây dựng và phát triển của ……… mà nó còn khơi dậy thêm cho chúng tôi tình yêu đối với mái trường này, sẽ cho tôi cơ hội có những kỷ niệm đẹp bên thầy cô, bạn bè.

    Tôi còn nhớ 5 năm trước, tôi háo hức chờ đợi để theo chị đi dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Cái không khí rộn ràng trong buổi liên hoan văn nghệ và cắm lửa trại vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Để đến bây giờ, trong không khí chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 55 năm ngày thành lập trường trong tôi không khỏi háo hức ngóng chờ và có lẽ không chỉ riêng tôi mà tất cả các bạn học sinh đều cùng một tâm trạng như thế. Tôi tin rằng lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trường THPT ……… sẽ để lại trong tôi những kỷ niệm đẹp, theo tôi tới cuối cuộc đời.

    Để chào mừng lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập trường, rất nhiều các hoạt động thi đua đã được phát động như: Thi đua dạy tốt, học tốt; thi đua hái hoa điểm 10 dành tặng thầy cô, … Không chỉ là các hoạt động học tập, các bạn học sinh cũng rất nhiệt tình trong các hoạt động do đoàn trường và các chi đoàn phát động như: thu gom giấy và vỏ lon tái chế, trồng hoa để xây dựng khuôn viên trường thêm đẹp đẽ,… Tôi cùng các bạn tham gia vào buổi trồng cây của nhà trường, dù nắng chói chang nhưng tôi vẫn thấy nụ cười rạng rỡ của các bạn học sinh. Từng cây hoa được trồng lên, rôi nay mai hoa sẽ lớn, sẽ nở hoa thơm ngát tô điểm thêm cho vẻ đẹp của trường trong ngày lễ trọng đại. Và có lẽ cũng giống tôi, ở đâu đó tận sâu trong đáy lòng những người con của mái nhà ……… đều dành cho trường vị trí lớn trong trái tim. Để rồi đây có lẽ từng nhành cây, ngọn cỏ nơi sân trường, từng khu giảng đường cũng trở nên thân thuộc, đáng yêu và mái mãi in đậm trong trí nhớ của những thế hệ học sinh trưởng thành từ mái trường này.

    Tôi nói riêng cũng như từng thế hệ học sinh đã và đang trưởng thành từ mái trường THPT ……… sẽ mãi nhớ về trường như một bến đỗ bình an, một điểm tựa tinh thần vững chắc để bước tiếp trên đường đời đầy gian nan, thử thách.

    Một lớp học trò nữa sắp ra trường, những người thầy cô vẫn âm thầm là “ người đưa đò sang sông”, dẫu có niềm vui hay nỗi buồn thì “bến đỗ” có tên THPT ……… luôn là miền ký ức rất đẹp trong ký ức học sinh. Chắc chắn rằng mai sau, mai sau nữa thì ……… vẫn mãi trong trái tim tôi.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 12

    Người lái đò

    Một đời người – một dòng sông…
    Mấy ai làm kẻ đứng trông bến bờ,
    “Muốn qua sông phải lụy đò”
    Đường đời muôn bước cậy nhờ người đưa …

    Tháng năm dầu dãi nắng mưa
    Con đò trí thức thầy đưa bao người
    Qua sông gửi lại nụ cười
    Tình yêu xin tặng người thầy kính thương

    Con đò mộc – mái đầu sương
    Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày,
    Khúc sông ấy vẫn còn đây
    Thầy đưa tiếp những đò đầy qua sông…

    Có lẽ khoảng thời gian này là lúc chúng ta – lớp lớp lứa học trò đang hướng về một ngày mà tôi cho đó là ngày đặc biệt nhất của những “người lái đò ” đó là ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11. Nhưng có lẽ với tôi, có lẽ đây sẽ là lần cuối cùng chúng tôi, khóa học sinh…… được tham dự lễ kỉ niệm này, quan trọng hơn cả là được ngồi cầm bút viết và bắt đầu nhìn lại cả một quãng thời gian gắn bó với biết bao kỉ niệm đẹp với thầy cô cũng như mái trường –Trường THPT ……….

    Trong giây phút xúc động này, tôi nhìn lại chặng đường mà tất cả chúng ta đang và chuẩn bị đi qua, đó là gần ba năm học tại trường THPT …………, tôi không khỏi bồi hồi và dạt dào khi nhớ lại những kỉ niệm của chúng ta đã dành cho nhau cũng như những tình cảm mà thầy cô dành cho chúng ta. Đã hơn 2 năm, khoảng thời gian không dài với một đời người, nhưng đủ để lưu giữ nhưng kỉ niệm tốt đẹp về bạn bè, thầy cô và mái trường … Vào lúc này đây tôi cảm thấy thật tiếc, tôi tiếc vì không còn nhiều thời gian ở lại mái trường yêu dấu này, cũng như giây phút chúng tôi chia tay nhau và chia tay thầy cô sắp đến… Tôi muốn viết để nói lên cảm xúc lúc này nhưng không dễ, bởi có quá nhiều kỉ niệm biết viết sao cho đủ đây, viết sao cho thỏa những suy nghĩ lúc này đây. Tự dưng thấy nhớ, nhớ thầy cô, bạn bè quá. Làm sao để nói hết được tình cảm mà thầy cô trong ngôi trường này đã “nuôi dưỡng’’ chúng tôi như những đứa con gia đình như thế nào… Tôi lo sợ mất đi một điều gì đó đã quá quen thuộc trong suốt gần 3 năm học, hằng ngày được các thầy cô giảng bài, được học ,được rèn cả kỹ năng sống. Sợ phải chia tay những đứa bạn vẫn ngày ngày cùng mình học tập và nô đùa cùng nhau, và nhất là phải xa đứa bạn cùng bàn… và tôi sợ nhất là khi mình mất phương hướng mà không có cô ở bên khuyên bảo và an ủi.

    Mái trường này – ngôi nhà thứ 2 của tôi, nơi mà có khi tôi yêu hơn cả nhà, đó là nơi tôi ngồi học ngày ngày, nơi luôn có những đứa bạn sẵn sàng giúp đỡ, quan tâm tôi, tôi yêu tất cả mọi thứ và quan trọng hơn tôi đã yêu cô, cô giáo dạy tôi học, nhất là cô giáo chủ nhiệm của tôi, cô Trần Hương Giang. Cô dạy tôi trưởng thành, dạy cách làm người để sống tốt sống đẹp… Nhiều lúc tôi chỉ muốn nói với cô rằng: “ Cô ơi cô thật tuyệt ”. Khi em vấp ngã, khi em thất bại luôn có cô ở bên, luôn có cô mở rộng vòng tay đón em về như đứa con lạc đàn. Nếu như không có cô em cảm giác như đã mất đi một người yêu mình, một người hiểu, quan tâm mình … và lo sợ rằng cô sẽ quên em khi em rời xa mái trường này cô à! … Cô ơi, em quý và yêu cô nhiều lắm và em chỉ muốn dừng lại mãi khoảng thời gian này để được ở bên cô và được cô dạy dỗ, được cô quan tâm mãi thôi!.

    Và nỗi nhớ thì không thể đo được ít hay nhiều, tình cảm cũng vậy sẽ không kết thúc. Hiện tại hay tương lai thì hình ảnh thầy cô bạn bè mái trường sẽ mãi trong trái tim. Nỗi nhớ theo thời gian sẽ ngày một đong đầy, những gì thầy cô và chúng em dành cho nhau sẽ còn mãi và luôn là những hoài niệm tươi đẹp trong quá khứ.

    Xa mái trường này, mỗi người một ngả, mỗi người sẽ có cho mình lối đi riêng, cái gì cũng riêng… nhưng em biết rằng các thầy cô vẫn luôn ở đây, luôn in ấn hình ảnh của chúng em ở trong trái tim và ngay cả khi lúc chúng em đã rời xa mái trường yêu dấu này, vẫn mỉm cười chào đón chúng em khi chúng em quay lại … Bao nhiêu lời cảm ơn cũng không đủ.

    Nhưng vẫn xin cảm ơn mái trường này đã cho em gặp được những người thầy, người cô tận tâm và tận tụy như vậy, những người bạn tốt và những bài học sẽ chẳng bao giờ quên được. Đặc biệt là với lớp chuyên Văn của tôi xin gửi lời chúc tốt nhất đến cô chủ nhiệm lớp – cô Trần Hương Giang. Chính cô đã nâng đỡ thay vì là người cô người dẫn dắt, cô đã thay cả phần là người bạn, một người bạn có thể am hiểu và quan tâm chúng tôi , … xin cảm ơn tất cả và em cũng như các bạn sẽ luôn nhớ mãi nơi đây – trường THPT ……… , nơi đã chắp cánh cho tâm hồn em và dẫn lối em thực hiện ước mơ !

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 13

    Thời gian trôi qua thật là nhanh, tôi đã là thành viên của mái trường yêu dấu này được hai năm rồi. Đến giờ, tôi vẫn còn cảm xúc nguyên vẹn của mùa hè hai năm về trước. Sau khi hoàn thành chương trình Tiểu học, cha mẹ có rất nhiều sự lựa chọn về một ngôi trường cấp 2 cho tôi. Nhưng có lẽ, duyên trời run rủi… để rồi trường Nguyễn Tất Thành, lớp A8 là nơi chắp cánh ước mơ tiếp theo cho tôi trên con đường dài trở thành một người có ích cho xã hội.

    Trong khuôn viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Nguyễn Tất Thành của tôi bao gọn một khoảnh nhỏ nhưng vẫn bề thế, vươn thật cao giữa bầu trời Thủ đô. Một khoảng xanh nho nhỏ với nắng thu vàng nhè nhẹ trong ngày “Chào học sinh lớp 6” để lại trong miền nhớ của tôi bao kí ức trong trẻo về những ngày sắp tới. Nụ cười thân thiện của cô giáo Thu Anh – Hiệu trưởng nhà trường; sự sáng tạo và năng động của các anh chị đến từ nhiều CLB; và sự rộn ràng trong không khí tươi vui của chương trình chào HS lớp 6 khiến ngày đầu đến lớp của chúng tôi từ sự bỡ ngỡ nhanh chóng hóa thân quen tự bao giờ. Sau ngày hôm ấy, lòng tôi luôn trào dâng một cảm giác lâng lâng khó tả. Để rối nó khiến tôi chờ đợi từng ngày, từng ngày đến ngày 1/8… ngày đầu tiên đi học.

    Người đầu tiên để lại ấn tượng tại trường Nguyễn Tất Thành cho tôi đó chính là cô giáo Nguyễn Thị Thu Anh – Hiệu trưởng Nhà trường. Bạn có thích thú không khi được ngồi ăn cơm trưa ở lớp bán trú với “bạn Thu Anh”? Còn với tôi, lúc ấy, thấy vui lắm, lòng cứ rộn ràng lên mà chẳng nói được gì… Ấy là một lần lớp tôi ở lại ăn bán trú và thật bất ngờ, cô Thu Anh đã cầm một suất cơm trưa vào và ngồi xuống thật nhẹ nhàng bên chúng tôi và nói lời ân cần: “Chào các con 6A8, trưa nay các con cho bạn Thu Anh ăn cơm cùng với nhé!”. Cả lớp vừa ngỡ ngàng vừa cười ồ vỗ tay và đồng thanh: “Vâng ạ”. Thế là “bạn Thu Anh” với một suất ăn cũng y như chúng tôi từ tốn ngồi xuống ăn và trò chuyện thật gần gũi. “Bạn Thu Anh” còn ân cần đến từng bàn hỏi thăm các bạn với những câu hỏi quan tâm như tại sao tay lại nhiều mực thế này, tại sao tay lại xước rồi, sao không cởi áo khoác ra cho đỡ nóng,… Với tôi, sự giản dị, thân tình ấy chỉ có thể là những người bạn trao nhau. Đúng vậy, cô Thu Anh – Hiệu trưởng trường tôi thực sự hơn cả một người lãnh đạo nghiêm khắc, một người mẹ nhân từ mà còn là một người bạn gần gũi, sẻ chia. Ai ở trường Nguyễn Tất Thành mà chẳng tự hào khi là học sinh của cô Thu Anh phải không nào?

    Nhưng người mà tôi yêu quý, kính trọng và dành nhiều niềm yêu mến hơn cả không ai khác chính là cô giáo chủ nhiệm lớp A8 của chúng tôi, cô giáo Ngọc Châu Vân. Ngày đầu tiên nhận lớp, tôi đã có cảm giác cô Vân thật gần gũi. Đúng như cái tên đặc biệt của cô – cô thật xinh đẹp như một viên ngọc châu báu. Cô Châu Vân có dáng người dong dỏng cao, làn da sáng nhẹ cùng khuôn mặt trái xoan, nhỏ nhắn. Nổi bật trên khuôn mặt ấy là đôi mắt như biết nói, đen láy, mỗi khi cô nở nụ cười, đôi mắt ấy lại sáng lên bao niềm cảm xúc. Nụ cười âu yếm ấy của cô đã bao lần xua tan đi sự mệt mỏi của chúng tôi. Nhưng tất cả vẻ đẹp bên ngoài đó chỉ là để tô điểm cho tâm hồn của một người mẹ dịu hiền, luôn cố gắng hết sức để các con tiến bộ!

    Tôi ấn tượng mãi về cô, về cách cô khơi dậy ý thức học tập ở chúng tôi. Hôm ấy là ngày trả bài kiểm tra giữa học kì I năm lớp 6 – kì thi tập trung đầu tiên của chúng tôi. Lúc đó, chúng tôi mới vào cấp II nên còn lạ lẫm và vụng về lắm, học tập cũng không hề đơn giản như hồi Tiểu học. Những điểm 9, điểm 10 giờ đã trở nên xưa cũ. Thay vào đó là những điểm 6, điểm 7 và cả những điểm 4, điểm 5. Điểm thi của chúng tôi nếu không nói là tệ thì cũng là rất kém với kết quả của một lớp chọn. Hôm đó, không khí lớp học trầm lặng hơn bình thường. Vẫn đó phấn trắng, bảng đen, hành lang ánh nắng vàng ươm vẫn trải đầy; nhưng những khuôn mặt các bạn tôi trong lớp 6A8 không còn rạng rỡ, vui đùa như mọi hôm nữa; cô Châu Vân cũng không còn thường trực nụ cười đôn hậu nữa mà chỉ ánh lên một nỗi buồn thật rõ trong đôi mắt sâu thẳm của cô. Nhưng tuyệt nhiên, cô không mắng hay trách chúng tôi.

    Hôm sau cô cũng không tỏ thái độ tức giận gì về việc chúng tôi bị điểm kém. Sự im lặng của cô không có nghĩa là cô mất niềm tin vào chúng tôi, chỉ là cô đang đau đáu nỗi niềm làm thế nào để khơi dậy hứng thú học tập từ đàn con thơ. Rồi, một hôm trong giờ Tự học, bàn tay cô nắn nót viết lên bảng dòng chữ: “Làm thế nào để học tốt?”. Sau đó cô mời các bạn được điểm cao trong kì thi vừa rồi lên chia sẻ với các bạn khác. Cô nói rằng mỗi người sẽ có phương pháp học tập khác nhau, chúng ta không phải bản sao của người khác, nhưng chúng ta có thể học từ người khác những điều phù hợp để biến nó thành của bản thân mình. Cô cũng gửi gắm: “Các con cứ hãy coi việc học như chơi một trò chơi, và trò chơi nào cũng có đích đến, đích đến là trái ngọt, là nụ cười. Vậy nên, các con hãy cố gắng nhìn nhận thật đơn giản việc học hành cũng như cố gắng đạt được cái đích chiến thắng. Cô tin các con sẽ thành công!”.

    Những lời nói giản dị ấy của cô Châu Vân đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in. Và đến kì thi cuối kì, lớp chúng tôi ai cũng tự nhủ rằng mình sẽ không để cô phải buồn, phải mệt nhọc nữa, chúng tôi sẽ làm cô vui. Thế rồi, điều chúng tôi mong muốn cũng đến, điểm số đã khác, không khí đã khác, tươi vui hơn và rạng ngời. Nụ cười đã trở lại trên khuôn mặt phúc hậu của cô với những lời chúc mừng. Tôi biết lúc ấy cô hạnh phúc, một niềm hạnh phúc thật giản dị, không phải vì cô, mà vì chúng tôi, những đứa con thân yêu của cô.

    Tôi yêu những người mẹ thứ hai của tôi. Tôi yêu trường Nguyễn Tất Thành và cả những điều thật giản dị nơi đây. Những điều nhẹ nhàng và ấm áp ấy đã và đang có thật nhiều, và chắc chắn nó sẽ trở thành khoảng kí ức tươi đẹp theo tôi đến suốt cuộc đời.

    Những kỉ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường Bài mẫu 14

    Tiếng trống trường rộn rã vang lên, âm thanh riếu rít của tiếng chim trên nhánh phượng cũng đã đua nhau thì thầm hát. Tôi sải bước dài trên đoạn đường vỏn vẹn vài trăm mét đến lớp như mọi ngày, bầu trời hôm nay cũng không có gì khác lạ, chỉ là lòng tôi hôm nay có chút gì vươn g vấn và lẩn quẩn những xúc cảm lạ thường. Nghiêng đầu bên ô cửa sổ, ánh nắng sớm chói chang đang lấp lánh hé chiếu vào đôi mắt tôi, đôi mắt hôm nay chắc trêu nhiều tâm sự. Ấy có lẽ là tâm trạng của một nữ sinh cuối Cấp 3, một cô học trò chưa đủ để gọi là trưởng thành, chẳng muốn xa mái trường thân yêu này!

    Ba năm cấp 3 giờ suy ngẫm lại mới thấy nó ngắn biết nhường nào, nó như một cơn mưa rào thoáng qua chợt đến và vội đi để lại nơi ấy những chồi non, những cánh hoa đầm đìa giọt nước. Đối với tôi ba năm cấp 3 đã đến rồi lặng lẽ qua nhanh như 1 cái chớp mắt, để lại biết bao kỷ niệm vui buồn hờn giận, của một thời tinh nghịch mang tên tuổi học trò. Ngôi trường thân thương mà tôi gắn bó gần 3 năm qua, là nơi có khuôn viên vui chơi bao phủ một màu xanh của cây, hoa và lá, nơi nhộn nhịp tiếng cười đùa, tiếng bước chân của những nam sinh, nữ sinh đến lớp học, khi ánh bình minh lấp lánh hiện lên. Nơi có cây bàng già với những chồi lá xanh non tươi tắn đang nô đùa cùng gió. Những cánh phượng đỏ thắm vẫn còn đọng lại mấy giọt sương ban mai ở từng cành hoa mong manh, rực rỡ. vườn lan vẫn cứ thế khoe sắc, đua nhau nở những bông hoa xinh tươi. Và tất cả sẽ vẫn diễn ra như vậy, như một quy luật của tạo hóa của tự nhiên, cây vẫn đứng đó, lá vẫn tươi vui, hoa vẫn đua nhau khoe sắc. Vâng! Mọi thứ sẽ vẹn nguyên chỉ có chúng tôi đã lớn lên từng ngày, chỉ sau vài tháng nữa thôi, tôi mãi mãi không được nhìn chúng mỗi ngày nữa…. Trường tôi đấy! Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú Huỳnh Cương, nơi đã từng rất xa lạ với tôi và là ngôi trường mơ ước của biết bao học sinh. Có đôi lúc tôi tự thấy bản thân mình cũng thật xuất sắc đấy chứ, đã vượt qua nhiều học sinh để bước chân vào ngôi trường này, để rồi cảm xúc như vỡ òa khi biết mình trở thành một thành viên bé nhỏ trong ngôi nhà chung. Có lẽ tôi quá lan man nhưng những kỷ niệm đầu tiên về mái trường luôn là những ký ức theo ta đi suốt cả cuộc đời. Rồi lại nhìn băng quơ ra sân trường lớn rộng kia những chấm nắng lọt qua như những mắt nhìn tinh nghịch, mấy cô cậu học trò đùa vui rất đổi hồn nhiên và sáng trong như màu áo trắng vậy. Tôi đã từng như thế, cái ngày tôi còn là một cô nhóc chưa tròn 16 tuổi, chập chững bước vào trường, ngày mà chưa từng nghĩ mình chỉ còn mỗi 3 năm này thôi, 3 năm lưu giữ những hồi ức đẹp của thanh xuân bên cạnh những niềm vui, những ngày vui chơi với đủ thứ trò chơi tinh nghịch thì cuộc sống sinh hoạt cũng như học tập của một cô bé luôn được nâng niu trong vòng tay gia đình như tôi, và giờ phải học nội trú xa nhà cũng gặp muôn vàn khó khăn và cả những lần không còn chút kiên nhẫn nào. Còn nhớ tôi đã từng khóc rất nhiều khóc đến sưng tấy cả mắt vì nhớ nhà, vì không chịu nổi cách sống trong khu nội trú, thức khuya dậy sớm, Với những người bạn xa lạ chưa bao giờ tôi biết. Nhớ lắm bữa cơm đầu tiên ở nội trú, tiếng kẻng cơm gõ ba hồi to, ầm ầm bên tai báo hiệu giờ ăn đã đến. hôm ấy có lẽ là ngày tôi không bao giờ quên. Bước đôi chân bé nhỏ, khuôn mặt thẫn thờ và xung quanh là những người bạn xa lạ không quen biết, tôi đến nhà ăn loay hoay tìm chỗ ngồi của mình. Đôi tay sun sùn nhận lấy bát cơm hai hàng nước mắt từ đâu lăn dài chen chúc nhau trên đôi má ửng hồng. Tôi bị nghẹn ứ ở cổ, mỗi khi bữa cơm vẫn có tôi và ba mẹ kia mà, tôi không thể ý thức được điều gì nữa và cứ thế tôi không sao kiềm được nước mắt vội vã chạy về phòng. Giờ thì khác nhiều rồi tôi thương lắm mỗi bữa cơm trường nội trú, những bữa ăn ngon đậm đà hương vị, chất chứa yêu thương từ các cô làm bếp đã cất công chuẩn bị từ sớm. Tôi yêu cái nhộn nhịp, giọng cười văng vẳng sảng khoái khi đến giờ ăn nếu phải xa nó, chắc tôi sẽ khó lòng mà quên được. Tôi sẽ buồn lắm! Tất cả những trải nghiệm ấy từng ngày rèn tôi thành một cô gái mạnh mẽ, đủ khả năng tự lập, tự lo cho bản thân mình, ấy là điều tôi xem là may mắn nhất cuộc đời mình.

    Trường tôi có khuôn viên xanh tươi, sạch và đẹp, mỗi cái cây, cái hoa ở đây làm nên nụ cười của chúng tôi. Từng chiếc ghế đá in ấn những kỷ niệm những lần tụ tập chuyện trò đủ thứ chuyện trên đời, những khi lao động hay trực nhật mỏi mệt ghế đá là điểm dừng chân, nơi tràn ngập những nụ cười, nơi san sẻ những niềm vui nỗi buồn của tôi. Và ở nơi ấy mỗi lớp học như một mái ấm yêu thương, không biết từ lúc nào tôi đã yêu và gắn bó với mái trường của tôi nhiều đến thế. Rồi từng ngày trôi qua trường nội trú đã là ngôi nhà thứ hai của tôi, những người bạn, những người đồng hành tuyệt vời luôn sát cánh bên tôi trên con đường học tập, họ như anh em thân thiết gắn bó với tôi trong đại gia đình rộng lớn này. Và hơn thế nữa mỗi thầy giáo, cô giáo chính là người cha, người mẹ thứ hai của tôi.

    “ Một đời người một dòng sông…

    Mấy ai làm kẻ đứng trong bên bờ

    Qua sông phải lụy đò

    Đường đời muôn bước cậy nhờ người đưa…”

    Mấy ai đi suốt cuộc đời mình mà không có người thầy, người cô dẫn lối. Mấy ai trưởng thành mà không trải qua những ngày tháng học sinh. Và mỗi thầy giáo, cô giáo chính là người lái đò thầm lặng, những người tận tụy hết lòng với nghề, với học trò của mình, người mang đến nguồn tri thức như ngọn hải đăng sáng soi dẫn lối từng bước đường ta đi.

    Ngày ngày thầy cô vẫn đứng trên bục giảng dạy tôi những điều hay lẽ phải những đạo lý làm người. Tiếng thầy cô giảng bài hăng say vẫn văng vẳng đâu đây. Vẫn viên phấn trắng trên tay, tại nơi này đã dẫn dắt bao thế hệ nối tiếp nhau trưởng thành. Đi xây đắp cuộc đời tươi sáng, lời giảng của thầy cô đã không đi vào không gian bao la mà đi đến tâm hồn tôi. Đôi lần, tôi từng có những suy nghĩ nông nổi, những lần ngã gục vì mệt mỏi, chính những lời nhắc nhở, dạy bảo, động viên của thầy cô đã làm nên một cô học trò chín chắn biết suy nghĩ hơn của hôm nay. Tôi thật lòng biết ơn thầy cô nhiều lắm.

    Tình yêu bao la của thầy cô chưa bao giờ phai nhạt, chỉ là học sinh chúng ta chưa từng một lần và cảm nhận tất cả những điều đó. làm nghề giáo, bận rộn bao nhiêu là việc, bao đêm ròng rã thức trắng soạn giáo án, những trang giáo án đưa ta đến ước mơ, hay mệt nhòa vì chấm bài thi, bài kiểm tra của chúng ta. Mệt mỏi là thế khi ngày mới bắt đầu thầy cô vẫn nở nụ cười tươi tắn vẫn giảng dạy hăng say vì chúng ta, vì những học sinh thân yêu. “ Dẫu đếm hết sao trời đêm nay, dẫu đến hết lá mùa thu rơi, nhưng ngàn năm, làm sao em đến hết công ơn người thầy!” Tình yêu đó, lòng tri ân đó có cả trong lời bài hát. Và tấm lòng quý giá đó chẳng cần đâu sự trả ơn của ta.Chỉ cần nỗ lực học tập chăm chỉ hơn lấy kết quả học tập bù đắp cho công ơn thầy cô, cho những gì mà họ đã giành trọn vẹn nửa đời người cho nghề giáo. hãy dâng tặng những hoa điểm 10, hãy dành chút thời gian ngồi bên thầy cô để chuyện trò cùng họ. Bởi chỉ có tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim thì mới đến được trái tim…. Điều thầy cô cần có chỉ có thế.

    Tôi không sao nói cho hết những gì trong lòng mình… Rồi sẽ đến ngày chúng ta trưởng thành, ngày hân hoan mừng tốt nghiệp ngày kết thúc khoảng thời gian học cấp 3 đáng quý. Tôi sẽ nhớ lắm từng cái bàn, cái ghế, những viên phấn nhỏ nhắn, nhớ cái phòng học ồn ào tiếng cười đùa của chúng tôi. Tôi yêu màu xanh từng ngọn cây, sợi cỏ tỏa mát giữa nắng trời rực rỡ, yêu những ô cửa màu xanh, cánh cửa mở ra biết bao ước mơ khát vọng trong tôi.Tôi yêu mái trường, yêu khoảng sân rộng nơi nâng đỡ từng bước nhảy, bước đi, nơi tổ chức trò chơi dân gian cho chúng tôi, và cả những lần sinh hoạt vui chơi tập thể, vui biết bao ngôi trường còn ghi dấu trong tôi không thể phai mờ những ngày tưng bừng rộn rã của buổi khai giảng đầu năm học mới, ngày làm lễ cúng trăng nhộn nhịp tươi vui, hay những buổi liên hoan ồn ào, vui vẻ… Tôi yêu nó vô cùng!

    Quý lắm bác bảo vệ luôn luôn nghiêm khắc nhưng không hề dữ dằn bác luôn chăm chỉ, đúng giờ, báo cho chúng tôi giờ giấc hàng ngày rèn luyện chúng tôi vào nề nếp. Ôi! tiếng trống vang lên bao nhiêu hồi là bấy nhiêu cung bậc cảm xúc… Tôi yêu, tôi nhớ những lời dạy bảo của thầy cô, tôi tự hào về mái trường nội trú , mái trường đã cho tôi quá nhiều điều quý giá những thứ ấy đều phải nhớ, phải trân trọng và nếu một ngày phải rời xa nó, nước mắt ai sẽ rơi, trái tim ai sẽ buồn lòng ai sẽ đau không ai khác chính là chúng tôi, những cô cậu học trò cuối cấp phổ thông… Rồi tôi và những người bạn sẽ chào nhau mỗi người mỗi hướng đi riêng, đi đến tương lai của mình, nhưng mãi mãi sẽ chẳng bao giờ quên. nó sẽ là những ký ức tuyệt đẹp mãi khắc sâu trong tim, trong tận sâu đáy lòng tôi.

    Có nhạc sĩ nào đã từng viết “ Tuổi thơ như áng mây, rồi sẽ mãi bay về cuối trời. Thời gian xóa những kỷ niệm dấu yêu” vậy thì tôi mong có thể gửi lòng mình vào nơi cuối trời ấy để mãi được sống bên mái trường cấp 3 thân yêu. giờ chỉ còn chút ít thời gian ít ỏi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi sẽ vui chơi hết mình cũng không quên nhiệm vụ chính là học tập chăm chỉ, cố gắng hết sức để đạt kết quả cao cho 12 năm đèn sách. Cũng như không để phụ lòng gia đình thầy cô, những người đứng đằng sau tôi.

    Tôi phải cảm ơn, cảm ơn thật nhiều tới ngôi nhà chung nội trú Huỳnh Cương, những người thầy giáo, cô giáo, người bạn tạo nên mảnh ghép cuộc đời tôi. Tương lai mai này dù có đi đến đâu nhưng trái tim tôi vẫn hướng về mái trường, nơi gắn liền với thanh xuân quý báu. Dù thời gian có trôi đi, phủ bụi và xóa nhòa tất cả thì tình cảm của tôi dành cho mái trường, thầy cô nơi đây vẫn luôn đong đầy và vẹn nguyên không gì thay thế được.

    Tôi yêu trường tôi!

  • Sách giáo khoa Lịch sử 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Lịch sử 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô, các em học sinh SGK Sử 10 Cánh Diều gồm 2 file: SGK Lịch sử 10 Cánh Diều (hay SHS Sử 10 Cánh Diều), và Chuyên đề Lịch sử 10 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Huế xuất bản. Sách giáo khoa Lịch sử 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Sử 10 Cánh Diều.

    SGK Sử 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Lịch sử 10 Cánh Diều

    Tác giả: Lã Nhâm Thìn, Đỗ Ngọc Thống (đồng Tổng Chủ biên), Vũ Thanh (Chủ biên), Bùi Minh Đức, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Trần Văn Sáng.
    Chuyên đề Sử 10 Cánh Diều

    Chuyên đề Lịch sử 10 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô, các em học sinh SGK Ngữ văn 10 Cánh Diều gồm 3 file: SGK Văn 10 tập 1 Cánh Diều, SGK Văn 10 tập 2 Cánh Diều và Chuyên đề Ngữ văn 10 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Huế xuất bản. Sách giáo Ngữ văn 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Văn 10 Cánh Diều.

    SGK Văn 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 Cánh Diều

    Tác giả: Lã Nhâm Thìn, Đỗ Ngọc Thống (đồng Tổng Chủ biên), Vũ Thanh (Chủ biên), Bùi Minh Đức, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Trần Văn Sáng.
    SGK Ngữ văn 10 tập 2 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 2 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Tin học 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Tin học 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô, các em học sinh SGK Hoá 10 Cánh Diều gồm 3 file:
    – SGK Tin 10 Cánh Diều (hay còn gọi là SHS Tin học 10 Cánh Diều)

    – Chuyên đề Tin học 10 Cánh Diều phần Khoa học máy tính

    Chuyên đề tin học 10 phần Tin học ứng dụng

    Do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản. Sách giáo khoa Hoá 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Hoá học 10 Cánh Diều.

    SGK Tin 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Tin học 10 Cánh Diều

    Tác giả: Hồ Sĩ Đàm (Tổng Chủ biên), Hồ Cẩm Hà (Chủ biên), Đỗ Đức Đồng, Nguyễn Đình Hoà, Lê Minh Hoàng, Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Thanh Tùng.
    Chuyên đề Tin học 10 Cánh Diều

    Chuyên đề Tin 10 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Sinh học 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Sinh học 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô, các em học sinh SGK Sinh học 10 Cánh Diều gồm 2 file: SGK Sinh 10 Cánh Diều (hay còn gọi SHS Sinh học 10 Cánh Diều) và Chuyên đề Sinh học 10 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Sách giáo khoa Hoá 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Hoá học 10 Cánh Diều.

    SGK Sinh 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Sinh học 10 Cánh Diều

    Tác giả: Mai Sỹ Tuấn (Tổng Chủ biên), Đinh Quang Bảo (Chủ biên), Lê Thị Phương Hoa, Ngô Văn Hưng, Trần Thị Thuý, Đoàn Văn Thược.
    Chuyên đề Sinh 10 Cánh Diều

    Chuyên đề Sinh 10 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Hoá học 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Hoá học 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô, các em học sinh SGK Hoá 10 Cánh Diều gồm 2 file: SGK Hoá 10 Cánh Diều và Chuyên đề Hoá học 10 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Sách giáo khoa Hoá 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Hoá học 10 Cánh Diều.

    Sách giáo khoa Hoá học 10 Cánh Diều

    Tác giả: Trần Thành Huế (Tổng Chủ biên), Nguyễn Ngọc Hà (Chủ biên), Dương Bá Vũ.
    Chuyên đề Hoá 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Hoá 10 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Vật lí 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Vật lí 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô Vật lí 10 Cánh Diều gồm 2 file: SGK Vật lí 10 Cánh Diều và Chuyên đề Vật lí 10 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Sách giáo khoa Vật lí 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Vật lí 10 Cánh Diều.

    SGK Vật lí 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Vật lí 10 Cánh Diều

    Tác giả: Nguyễn Văn Khánh (Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên), Lê Đức Ánh, Đào Tuấn Đạt, Cao Tiến Khoa, Đoàn Thị Hải Quỳnh, Trần Bá Trình, Trương Anh Tuấn.
    Vật lí 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Vật lí 10 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Toán 10 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Toán 10 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Toán 10 Cánh Diều gồm 2 file: SGK Toán 10 tập 1 Cánh Diều và SGK Toán 10 tập 2 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Sách giáo khoa Toán 10 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Toán 10 Cánh Diều.

    SGK Toán 10 tập 1 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Toán 10 tập 1 Cánh Diều

    Tác giả: Đỗ Đức Hải (Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên), Phạm Xuân Chung, Nguyễn Sơn Trà, Nguyễn Thị Phương Nam, Phạm Sỹ Loan, Phạm Minh Phương, Phạm Hoàng Quân.
    SGK Toán 10 Cánh Diều tập 2

    Sách giáo khoa Toán 10 tập 2 Cánh Diều

    (xem thêm…)

  • Những sai lầm trong ăn uống của lứa tuổi học sinh

    Những sai lầm trong ăn uống của lứa tuổi học sinh

    Dinh dưỡng đối với lứa tuổi học sinh từ 6-18 tuổi rất quan trọng. Đây là giai đoạn trẻ phát triển nhanh về thể lực, đặc biệt là lứa tuổi dậy thì (11-15 tuổi). Đây cũng là giai đoạn có nhiều thay đổi của hệ thần kinh – nội tiết mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thể.

    Do đặc điểm phát triển nhanh như vậy nên nhu cầu về các chất dinh dưỡng, đặc biệt là vi chất dinh dưỡng của lứa tuổi này rất cao. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, iốt) ở lứa tuổi học sinh sẽ ảnh hưởng đến phát triển thể lực, chiều cao tối đa cũng như trí lực (khả năng học tập) của các em.

    Viện Dinh dưỡng Quốc gia cũng chỉ ra những sai lầm thường gặp trong dinh dưỡng mà lứa tuổi học sinh thường gặp phải như ăn quá nhiều, kiêng ăn, ăn vặt, ăn quán, ăn không đúng giờ giấc, uống ít nước, uống rượu, bia.

    Theo đó, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã đưa ra các phân tích cụ thể cho từng tình huống:

    Ăn quá nhiều

    Nhiều em học sinh ăn uống quá nhiều. Các em thích ăn các thức ăn giàu năng lượng và chất béo như món đồ quay, rán, các loại bánh kem, bánh bơ, bánh ngọt, uống các nước giải khát công nghiệp.

    nhung sai lam trong an uong cua lua tuoi hoc sinh - Những sai lầm trong ăn uống của lứa tuổi học sinh
    Ăn quá nhiều sẽ khiến trẻ dư năng lượng. Ảnh: Internet

    Viện Dinh dưỡng cũng cho hay lượng thức ăn trong bữa mà các em ăn cũng nhiều hơn so với nhu cầu của lứa tuổi. Ngoài các bữa chính lại thường xuyên ăn vặt, cộng với ít tập luyện, hoạt động thể lực dẫn đến dễ bị thừa cân và béo phì, có nguy cơ cao dễ mắc các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch sau này.

    Ăn kiêng

    Vì tâm lý sợ béo, sợ xấu nên một số em học sinh ăn kiêng quá thái: Đến bữa ăn rất ít cả cơm và thức ăn, kiêng không ăn dầu mỡ, hoặc chỉ ăn hai bữa trưa và tối mà không ăn bữa sáng. Giảm cơm và thức ăn trong từng bữa và thay thế bằng trái cây…

    Với chế độ ăn kiêng như vậy sẽ dẫn đến thiếu năng lượng và các chất dinh dưỡng. Đặc biệt là thiếu các vi chất dinh dưỡng dẫn đến mệt mỏi, kém linh hoạt, học tập kém hiệu quả, giảm trí nhớ. Và nếu các bậc phụ huynh để cho trẻ ăn như vậy trong thời gian dài sẽ dẫn đến một số bệnh: thiếu máu dinh dưỡng, giảm miễn dịch dẫn tới dễ mắc một số bệnh nhiễm khuẩn, kém phát triển thể lực, đặc biệt là chiều cao.

    Ăn vặt

    Hầu hết học sinh thường có thói quen ăn vặt ngay cả sáng sớm, hay lúc tan học về. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, các thức ăn vặt thường được mua sẵn nên không đảm bảo vệ sinh, do được chế biến bằng những nguyên liệu không an toàn, quá trình bảo quản không đảm bảo sẽ rất dễ gây ngộ độc thực phẩm. Theo số liệu điều tra Viện Dinh dưỡng, phần lớn thức ăn bày bán trên vỉa hè, ngoài cổng trường đều không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Mặt khác, do ăn vặt nhiều nên đến bữa chính các em sẽ ăn không ngon miệng, việc tiêu hóa hấp thu thức ăn không được tốt.

    Giờ giấc và lượng ăn của các bữa ăn không hợp lý: Mỗi ngày các em cần ăn ba bữa: bữa sáng, bữa trưa và bữa tối. Tỉ lệ năng lượng nên phân phối như sau: Bữa sáng: 30%-35%, bữa trưa: 35%-40% và bữa tối là 20%-25%.

    Nhiều em buổi sáng thường nhịn ăn hoặc ăn qua loa đại khái, các bữa ăn không đúng giờ giấc sẽ ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe. TS Hoàng Kim Thanh (nguyên Giám đốc Trung tâm GDTTDD, Viện Dinh dưỡng) lưu ý: Bữa sáng nên là bữa ăn chính vì buổi sáng các em cần nhiều năng lượng và các chất dinh dưỡng để phục vụ cho các hoạt động học tập với cường độ lớn trong bữa sáng. Theo đó, bữa sáng nên ăn vào lúc 6h-7h. Bữa trưa cần ăn no, nên ăn vào lúc 11h-12h trưa. Bữa tối không nên ăn no quá, nên ăn vào lúc 19-20h.

    Nếu các em học ôn thi khuya, có thể ăn thêm một bữa phụ với các thức ăn dễ tiêu (1 cốc sữa, 1 cái bánh ngọt, 1 quả chuối hay 1 củ khoai…)

    Ăn ở hàng quán

    Hàng quán luôn là địa điểm thu hút các em học sinh mỗi khi tan học, hoặc ngày nghỉ lễ, sinh nhật… Điều này thực sự không tốt về cả mặt dinh dưỡng lẫn tâm lý của trẻ. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nếu để trẻ thoải mái đi ăn hàng quán khi còn đi học sẽ khiến trẻ tiêu nhiều tiền, điều này không khoa học. Hơn nữa thức ăn hàng quán dễ bị ô nhiễm (các hàng quán bán cho học sinh thường mua các thực phẩm giá rẻ, kém chất lượng).

    Uống ít nước

    Nước rất cần thiết cho mọi hoạt động xảy ra trong cơ thể. Nước giúp cho quá trình tiêu hóa, hấp thu các thành phần dinh dưỡng, đào thải các chất cặn bã và độc hại ra khỏi cơ thể. Nhiều em do mải học hoặc mải chơi rồi quên uống nước, hoặc có thói quen, sở thích không cần canh, hoa quả… Như vậy cơ thể sẽ bị thiếu nước, quá trình chuyển hóa của thức ăn cũng dễ bị ảnh hưởng và làm tăng nguy cơ bị sỏi đường tiết niệu.

    Các em cần uống 1,5-2 lít nước/ngày, tốt nhất là uống nước rau, quả tươi, nước đun sôi để nguội. Hạn chế dùng nước ngọt có ga. Trong bữa ăn, các bậc phụ huynh cần cho trẻ ăn canh. Nhưng không nên ăn canh sau khi đã ăn cơm nhai kỹ với thức ăn và không nên ăn canh trộn chung với cơm ngay khi vào bữa ăn; vì làm như vậy sẽ làm tăng thể tích thức ăn trong dạ dày nên chóng no và hòa loãng dịch vị, làm giảm khả năng tiêu hóa thức ăn.

    Uống rượu, bia

    nhung sai lam trong an uong cua lua tuoi hoc sinh 1 - Những sai lầm trong ăn uống của lứa tuổi học sinh
    Uống rượu bia ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tổn hại não, gây ảnh hưởng xấu tới chức năng gan. Ảnh: Internet

    Viện Dinh dưỡng Quốc gia lưu ý một số em học sinh do đua đòi hoặc bị chuốc ép nên sử dụng rượu bia. Uống rượu bia ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tổn hại não, gây ảnh hưởng xấu tới chức năng gan.

    Do đó các em học sinh cần tránh tất cả những sai lầm về ăn uống đã nêu ở trên. Có như vậy các em mới có thể phát triển tốt cả về thể lực, trí lực, có một thân hình cân đối và một chiều cao lý tưởng.

  • Phân tích cảnh Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ

    Phân tích cảnh Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ

    Phân tích cảnh Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ

    Bài làm

    Văn chương không chỉ đơn giản là thú vui bình sinh lúc an nhàn mà còn là “điểm tựa” cho con người mỗi phút giây yếu lòng. Nó đem lại cho ta niềm tin yêu cuộc sống và vững tin vào chính mình để thay đổi. Những sự “đổi đời” không phải nhờ có phép màu của ông Bụt, bà Tiên mà từ chính sức mạnh, tiềm lực bên trong. “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài đã làm được điều đó. Con người có thể thoát ra khỏi khổ đau để đến với niềm vui chỉ bởi một hành động: hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ.

    Sau Cách mạng, Tô Hoài được ghi nhận là một trong những cây bút khai phá một mảnh đất mới cho văn học cách mạng, đó là mảng văn học viết về miền núi Tây Bắc – một vùng đất xa xôi, hoang vu nơi địa đầu Tổ quốc. Tập “Truyện Tây Bắc” là vụ mùa thu hoạch từ chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Tô Hoài năm 1952. Trong số ba truyện ngắn được giải Nhất Giải thưởng của Hội Văn Nghệ Việt Nam 1954 – 1955, “Vợ chồng A Phủ” có lẽ là truyện ngắn đọng lại ấn tượng sâu sắc nhất. Có thể nói: “đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên….” chẳng những nhắc nhớ người nghệ sĩ ấy ngày quay trở lạ mà còn “phải đem trả cho những người thương ấy” “một tấm lòng mình, một cái gì làm hiện lại cả cuộc đời người Hmông trung thực, chí tình…”.

    Đọc truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, ta không thể quên được gương mặt “buồn rười rượi” của Mị. Đó là gương mặt mang nỗi đau của một kiếp người không bằng ngựa trâu. Đó là gương mặt tưởng như cam chịu, mất hết sức sống. Gương mặt buồn rười rượi ấy không phải là gương mặt đầu tiên của cuộc đời Mị. Mị lớn lên, xinh đẹp với bao nhiêu khát vọng hạnh phúc. Nhưng chính những hủ tục phong kiến đã biến người con gái kia quên mất đi gương mặt hi vọng của mình mà trở nên lầm lũi, chẳng thiết vui cũng nắng, xanh cùng cỏ cây. Và có lẽ Mị sẽ sống như thế đến chết nếu không có đêm tình mùa xuân và đêm đông. Nhờ có hơi men rượu và hơi ấm của đêm tình mùa xuân, Mị đã cảm nhận được sự sống, khát vọng ở bên trong mình. Nhưng sức sống tiềm tàng bên trong thực sự biểu hiện thành khát vọng sống bên ngoài, thành hành động chỉ xảy ra vào đêm đông ấy…

    Ban đầu, khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đứng, Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. Vì Mị đã quá quen với cảnh áp bức, bóc lột trong căn nhà này ròi. Đó là hệ quả của chuỗi ngày bị đọa đày. Hơn nữa, Mị và A Phủ- kẻ bị trói đây khác nhau về trạng thái nhưng thân phận cũng đâu có hơn nhau mà có thể nói hai chữ “cứu giúp”.

    Nhưng “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” khiến Mị nhớ lại đời mình, nhớ lại những đêm Mị cũng bị trói đứng như thế, những giọt nước mắt còn không sao chảy ra được. Và như thế, từ mình mà nghĩ đến người, từ thương thân Mị cũng hướng tới thương người để rồi căm giận những thế lực tàn ác đã gây ra khổ đau cho những số phận như Mị. Rồi Mị tưởng tượng ra cảnh A Phủ trốn ra được và Mị sẽ là người thế chỗ trong dây trói đó. “Nghĩ thế nào Mị cũng không sợ”, vì đó vẫn là những hình dung, tưởng tượng rất xa.

    Và Mị quyết định cởi trói cho A Phủ, chỉ thì thào một tiếng: “Đi ngay”. Rồi “Mị đứng lặng trong bóng tối”, căng thẳng, hồi hộp trước một phút giờ quyết định. Câu văn đứng riêng ra một dòng, là những giây phút quyết định cả cuộc đời và số phận của Mị. Đó như là một bản lề khép mở hai phần đời của Mị: nô lệ – tự do, sống – chết, bóng tối – ánh sáng. Cuối cùng, người con gái cũng chịu cất bước sau bao năm chỉ biết quỳ gối, Mị chạy theo A Phủ, nói: “A Phủ cho tôi đi”, “Ở đây thì chết mất”. Mị đã quyết định chạy trốn khỏi địa ngục, chạy trốn khỏi cái chết. Hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ là Mị đang làm ơn cho A Phủ? Không hẳn, cởi trói cho A Phủ khỏi sợi dậy hữu hình, Mị đồng thời cũng là cởi trói cho chính mình khỏi sợi dây vô hình của nỗi sợ hãi, buông xuôi và khổ đau, tù tối. Mị giải phóng cho A Phủ bằng con dao nhỏ còn giải phóng cho mình bằng khát vọng sống. Khát vọng sống đã cứu Mị, mở đường sống cho Mị thoát khỏi nơi địa ngục tối tăm và không có sự sống kia.

    Đoạn văn ngắn chỉ có một vài câu thoại rời rạc, những hành động ngắn ngủi nhưng với ngòi bút tài hoa của Tô Hoài, không gian Tây Bắc vào đêm, bên ngọn lửa, nhân vật như được soi tỏ và tỏa sáng. Nhân vật được miêu tả trong cả một quá trình từ thờ ơ đến rung động, đấu tranh cuối cùng đi đến hành động rất nhanh nhưng lại phù hợp và logic. Qua đó, Tô Hoài đã miêu tả sâu sắc và cảm động sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị. Sức sống ấy như ngọn lửa âm ỉ cháy không dễ gì có thế dập tắt được. Đó chính là niềm tin mãnh liệt của Tô Hoài vào khả năng tự giải phóng để đến với tự do, đến với cách mạng của những người lao động vùng cao bằng năng lượng tự thân của chính họ. Không phải cách mạng là người khai sáng cho những con người khổ đau kia, chính họ, bằng nghị lực và sức mạnh của mình mới có thể cứu được chính mình. Và cách mạng, cùng Đảng là mở đường cho họ, dẫn lối để họ tìm thấy đích hạnh phúc của mình. Ý nghĩa của câu chuyện đã vượt khỏi giá trị nhất thời của văn học: vận động quần chúng, cổ vũ chiến đấu mà vươn tới giá trị nhân bản, nhân văn: đề cao giá trị tự thân, khả năng tự giải phóng của con người – đó chính là giá trị cốt lõi và muôn đời của nhân loại.

    Ai đó đã từng nói, khi một tác phẩm kết thúc, sự sống của nó mới thực sự bắt đầu. Sự sống của Mị, của “Vợ chồng A Phủ” vẫn còn đó, dù dấu chấm hết đã điểm,, và sẽ còn sống mãi đến chừng nào con người ta còn cần niêm tin, còn cần tiếp thêm sức mạnh và còn cần “vịn vào để đứng dậy”.

  • Phân tích và so sánh nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ

    Phân tích và so sánh nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ

    Phân tích và so sánh nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ

    Bài làm

    Nếu Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân, Nguyên Ngọc là nhà văn của những anh hùng thì Tô Hoài là nhà văn của những phong tục tập quán. Những câu chữ, nhân vật của ông đều mang những nét rất riêng của những giá trị truyền thống, sức sống dân tộc. Có thể thấy qua hình tượng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.

    Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là kết quả của chuyến đi thực tế năm 1953. Có thể nói: “đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên….” Chẳng những nhắc nhớ người nghệ sĩ ấy ngày quay trở lạ mà còn “phải đem trả cho những người thương ấy” “một tấm lòng mình, một cái gì làm hiện lại cả cuộc đời người Hmông trung thực, chí tình…”. Câu chuyện kể về cuộc đời Mị và A Phủ. Trong đó, nhân vật Mị, vì “cha mẹ ăn của bạc nhà giàu từ kiếp trước” nên kiếp này phải làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Sa chân vào chốn nhà quan, bị đọa đày về thể xác lẫn tinh thần, Mị tìm đến cái chết. Nhưng vì thương cha, Mị không đành lòng mà tiếp tục về làm thân trâu kiếp ngựa. Mị cứ sống như thế, nếu không có đêm tình mùa xuân…

    Nhân vật Mị được đặt vào trong đêm tình mùa xuân- chất xúc tác để làm bừng thức sức sống tiềm tàng bên trong. Thời gian: mùa xuân là mùa vạn vật sinh sôi nảy nở, cũng là khi trai gái mở hội lòng, từ đó mà gợi mở thanh xuân đời người. Không gian được tô sắc bởi màu đỏ của bí đỏ, màu vàng ửng của cỏ gianh, bởi những chiếc váy hoa sặc sỡ như những con bướm. Tất cả tạo nên không khí tươi mới và ấm áp. Rồi khắp không gian là tiếng cười ầm của trẻ em, tiếng sáo rủ bạn đi chơi, tiếng chó sủa xa xa, … thật đông vui. Không khí thì bình yên, vui tươi, ấm áp từ bên ngoài tràn vào lòng người. Đó chính là phông nền tự nhiên để đời sống tâm hồn Mị xuất hiện đầy sống động.

    Sức sống bắt đầu từ sự hồi sinh của các giác quan. Mắt Mị “không còn mông lung”, nhìn thấy “mờ mờ trăng trắng” nữa mà biết nhận được các sắc màu tươi thắm của cuộc đời. Tai Mị đã không còn nghe tiếng chân ngựa đạp vách mà mở lòng lắng nghe âm thanh sống động của cuộc sống. Thân xác không còn héo hon mà rạo rực bởi men say rượu ngô. Từ đó mà những nhận thức mới được hồi sinh. Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi, bài hát đắm say đã rất lâu, ngủ rất lâu nay bỗng tìm về. Mị uống rượu, uống từng bát. Đó quyết không phải cách uống rượu của đàn bà vùng cao mà như muốn nuốt cho sâu, vùi cho chặt đáy lòng những khổ đau, buồn tủi. Men rượu ngấm, khơi dậy trong Mị những kí ức. Mị say, lịm mặt ngồi đấy, lòng Mị đang sống về ngày trước, sống một cách trọn vẹn như không mảy may thiết đến những đắng cay hiện tại. Rồi những cảm xúc hồi sinh trở lại, Mị thấy phơi phới một niềm vui hân hoan. Mị hồi sinh tiếp về nhận thức, về tuổi trẻ của mình: “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ”, về khát vọng: “Mị muốn đi chơi”, về quyền sống “Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi” về cuộc sống của mình: “Mị và A Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Những khát vọng được hồi sinh dẫn đến hành động: Mị sửa soạn đi chơi: “đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bơ bỏ vào đèn cho sáng”. Chỉ khi người ta không còn muốn sống chung với bóng tối, người ta mới tìm đến ánh sáng. Những câu văn ngắn cùng với sự lặp lại chủ ngữ Mị, các động từ hối hả, thái độ mạnh mẽ, dứt khoát của một con chim muốn tháo cũi sổ lồng. Rồi Mị vùng bước đi trong lúc bị trói. Sợi dây nghiệt ngã của số phận chỉ có thể trói được chân Mị nhưng không thể trói buộc được đôi cánh tâm hồn. Con chim dẫu chưa thoát ra khỏi cũi cao lồng hẹp nhưng tiếng ca của nó đã vang động đến tận trời xanh. Rồi khi nhớ về người đàn bà đồng phận, “Mị sợ quá, cựa quậy, xem mình còn sống hay đã chết”. Khi con người bị dồn đến cùng đường tuyệt lộ, đối diện với cái chết thì người ta lại càng tha thiết sống. Như cành cỏ héo khô chờ ngày kết thúc, Mị lại tràn trề sức sống, khát vọng sống.

    Và sức sống tiềm tàng của Mị lên đến cao trào chính là trong đêm đông cởi trói cho A Phủ. Ban đầu, khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đứng, Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. Vì Mị đã quá quen với cảnh áp bức, bóc lột trong căn nhà này ròi. Đó là hệ quả của chuỗi ngày bị đọa đày. Mị chạy theo A Phủ, nói: “A Phủ cho tôi đi”, “Ở đây thì chết mất”. Mị đã quyết định chạy trốn khỏi địa ngục, chạy trốn khỏi cái chết. Như vậy, hành động cởi trói cho A Phủ cũng là cởi trói cho chính mình. Mị giải phóng cho A Phủ bằng con dao nhỏ còn giải phóng cho mình bằng khát vọng sống. Khát vọng sống đã cứu Mị, mở đường cho Mị. Đó chính là niềm tin của Tô Hoài vào khả năng tự giải phóng để đến với tự do, đến với cách mạng của những người lao động vùng cao bằng năng lượng tự thân của chính họ.

    Nhân vật Mị, từ nô lệ đã vượn tới tự do và tự chủ cuộc đời mình, từ bóng tối để bước ra ánh sáng, từ nỗi đau để tiến tới niềm vui, từ đợi ngoại cảnh tác động đến sử dụng nội lực tự thân để tìm lại chính mình. Từ đêm tình mùa xuân đến đêm đông là cả một quá trình vận động, hồi sinh sức sống của Mị. Từ tâm thức, tiềm thức đến hành động. Nếu ở đêm tình mùa xuân, khát vọng sống nương theo tiếng sáo thì ở đêm đông, nó lại được cháy lên bởi ngọn lửa. Đêm tình chính là tiền đề để có được hành động cắt dây cởi trói trong đêm đông, chính sự hồi sinh về giác quan, cảm xúc, hồi ức của đêm tình để tạo nên sự tái sinh cuộc đời mới ở đêm đông. Đó là quá trình vận động tâm lí rất tinh tế mà logic, tự nhiên được Tô Hoài miêu tả bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo. Nhưng sau tất cả, ta đều thấy được bản tính mạnh mẽ, khong chịu chấp nhận số phận, vượt thoát khỏi cuộc sống thực tại để sống là chính mình. Đó không phải là sự thay đổi của bản năng mà là kết quả tất yêu của sức sống tiềm tàng, của khát khao hạnh phúc. Cái hay của nhà văn là không chỉ dừng phản ánh hiện thực đương thời để nói những vấn đề nhất thời mà bởi ông đã nhìn và phản ánh được vấn đề muôn thuở của nhân loại, có tình nhân bản của văn học: sức mạnh lớn nhất, ánh sáng lớn nhất là ở tự thân mỗi người, do bản thân mỗi con người, không phải ở tha nhân hay cách mạng.

    Bởi thế, “Vợ chồng A Phủ” đã đứng cao hơn các tác phẩm chỉ là sự minh họa giản đơn của những tư tưởng chính trị phục vụ cách mạng, mà nằm ngoài quy luật băng hoại của thời gian, mình nó “không thừa nhận cái chết”. Nhân vật dạy cho ta nhiều hơn chỉ là số phận của con người miền núi thời trước.

  • Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

    Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

    Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

    Bài làm

    Tô Hoài là nhà văn có nhiều cống hiến cho nền văn học Việt Nam hiện đại cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám. Ông nổi tiếng với nhiều tác phẩm nhưng tiêu biểu nhất là “Dế mèn phiêu lưu ký” và “Vợ chồng A Phủ”. Truyện “Vợ chồng A Phủ” sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Thông qua cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ, tác phẩm đã để lại tinh thần nhân đạo sâu sắc, mới mẻ thấm đượm trên mỗi trang sách của ông

    Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài được in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu trích học trong sách giáo khoa là phần nói về cuộc sống đầy tủi nhục của Mị và A Phủ trong nhà thống lý Pá Tra ở Hồng Ngài, kết thúc bằng việc Mị cắt đứt dây trói cứu A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài. Phần sau là cuộc sống mới của Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Họ theo Cách mạng giải phóng quê hương.

    Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ, đồng thời lên án những thế lực tàn bạo, đen tối chà đạp lên quyền sống, ước mơ hạnh phúc và phẩm giá của con người.

    Trước hết, giá trị nhân đạo toát lên từ niềm cảm thông sâu sắc của Tô Hoài đối với những số phận bất hạnh, bị tước đoạt quyền sống, bị lăng nhục, đày đọa mà tiêu biểu là Mị và A Phủ. Hai sự sống trẻ trung bị đày đọa khủng khiếp trong tù ngục nhà thống lí Pá Tra đang bị chết dần, chết mòn vì khổ đau. Mị – cô gái trẻ đẹp, mơn mởn như bông hoa rừng nhưng bị bắt cóc về làm con dâu gạt nợ nhà thống lý. Dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền, lễ giáo, hủ tục phong kiến miền núi. Mị sống âm thầm vật vờ như chiếc bóng, cứ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Khi thì tưởng “mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”. Bởi Mị sống mà hầu như mọi quyền lợi bị tước đoạt. Mang tiếng là con dâu nhưng Mị lại là con dâu gạt nợ. Là con nợ hơn là con dâu. Là con nợ nên Mị thành nô lệ để “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay. Cuối mùa thì đi nương bẻ bắp…lúc nào cũng cài một bó đay ở trong tay để tước thành sợi. Suốt năm, suốt đời như thế”. Bị bóc lột sức lao động đã đành, Mị lại còn bị tước đoạt tuổi xuân, hạnh phúc, bị thần quyền áp chế. Nơi Mị sống chỉ độc “một ô cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay trông ra ngoài không biết sương hay là nắng”. Đó là chốn địa ngục trần gian mà tên chồng A Sử đã trói buộc Mị vào đó, vùi dập tuổi xuân của Mị ở đó. Còn A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh, gan bướng, sống cuộc sống hồn nhiên, phóng khoáng của tuổi trẻ yêu đời, lao động giỏi. A Phủ không nợ nần gì nhà thống lí mà rốt cục cũng biến thành kẻ trừ nợ suốt đời bị đánh đập, bị trói buộc một cách thảm khốc đến mức gần như tê liệt cả sức phản kháng. Cảnh xử kiện tàn bạo như thời trung cổ được Tô Hoài vẽ nên bằng một trang giấy mà ở đó sự tàn nhẫn, độc ác đã lên ngôi. A Phủ bị đánh đập gần như cả ngày: “đầu, đuôi mắt giập chảy máu” nhưng “chỉ quỳ và im như cái tượng đá”. Đến cả cái cảnh vì để hổ bắt mất một con bò, A Phủ phải bị trói đứng lên cái cột với dây mây quấn từ chân lên đến cổ. Phải chờ chết một cách vô lý trên cái cọc ấy giữa đêm đông rét mướt nếu không có bàn tay cứu giúp của Mị và tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.

    Không chỉ xót thương, Tố Hoài còn lên tiếng tố cáo gay gắt thế lực phong kiến miền núi tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của nhân dân lao động Tây Bắc mà tiêu biểu là Mị và A Phủ. Chúng đã lợi dụng chính sách cho vay nặng lãi để nô lệ hóa con người mà Mị và A Phủ chính là nạn nhân của chúng. Nợ là sợi dây trói buộc thể xác của Mị và A Phủ vào nhà thống lý nhưng thần quyền mới là sợi dây trói oan nghiệt nhất đã trói buộc tinh thần Mị và A Phủ vào nhà thống lý. Họ đã bị thần quyền làm cho tê liệt về ý thức phản kháng, trở thành những con người cam chịu kiếp sống trâu ngựa. Không chỉ vậy, chúng còn dùng cường quyền, hủ tục và những thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn để thỏa mãn sự độc ác. Mị bị bóc lột lao động tàn tệ chỉ biết chúi đầu vào công việc cả đêm cả ngày “suốt năm, suốt đời như thế”. Bị A Sử trói đứng vào cột trong đêm tình mùa xuân chỉ vì Mị muốn đi chơi. A Phủ thì quanh năm chỉ rong ruổi ngoài bìa rừng chăn bò chăn ngựa đến nỗi quên cả việc về thăm làng cũ. Bị trói đứng vào cột chờ chết, thế mạng mình cho mạng của con bò. Qua những số phận ấy, ngòi bút Tô Hoài đã vạch trần bộ mặt tàn bạo của cha con nhà thống lý. Mang đến cho người đọc “tập hồ sơ tội ác” về tội ác tày trời của giai cấp chủ nô phong kiến miền núi ở Tây Bắc trước khi có cách mạng về.

    Biểu hiện thứ ba của giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là việc nhà văn phát hiện và nâng niu trân trọng trước những vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất cao đẹp của nhân vật Mị và A Phủ.

    Trước hết, nhà văn phát hiện và nâng niu trân trọng trước vẻ đẹp của nhân vật Mị. Mị là cô gái trẻ đẹp, giàu tài năng “Mị thổi sáo hay, thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Có tấm lòng hiếu thảo với cha già. Khi bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lý, dù cuộc sống nhiều khổ cực, khổ như trâu ngựa nhưng trong Mị luôn ẩn chứa sức sống tiềm tàng mãnh liệt, sức phản kháng mạnh mẽ. Tất cả đã được ngòi bút Tô Hoài trân trọng, nâng niu qua từng phát hiện. Trong đêm tình mùa xuân, sức sống ấy như ngọn lửa bùng cháy dữ dội. Khi nghe tiếng sáo vọng lại “thiết tha bổi hổi”, Mị đã sống lại những phút giây tuổi trẻ ngày nào. Đó là lúc tài năng âm nhạc trong Mị được đánh thức “Mị ngồi nhẩm thầm lời người đang thổi sáo”. Hành động ấy nói lên bao điều. Bấy lâu nay, cô Mị câm lặng, vô cảm, ấy thế mà hôm nay bỗng được sống dậy. Bài hát cũ lâu rồi không hát, điệu sáo ấy lâu rồi không thổi nhưng Mị vẫn nhớ, Mị không quên nghĩa là sức sống trong Mị chưa nguội tắt mà vẫn âm ỉ như hòn than trong lớp tro tàn. Cũng trong đêm tình ấy, ngòi bút Tô Hoài còn chứng kiến được hình ảnh một cô Mị nổi loạn cùng men rượu cay đêm tình. Rượu đã đưa Mị từ cõi quên về với cõi nhớ, rượu và tiếng sáo ngất ngây gọi bạn tình đã làm Mị nhận ra “Mị trẻ lắm. Mẹ còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Khát vọng ấy, là khát vọng của con người yêu tự do, khát vọng tự do mãnh liệt. Và hành động “Mị cuốn lại tóc. Mị với tay lấy chiếc váy hoa vắt ở phía trong vách… Mị rút thêm cái áo” đã cho thấy sự bứt phá của Mị với bản năng sống mãnh liệt bất chấp cả cường quyền, thần quyền. Ngay cả khi bị A Sử trói đứng vào cột “tóc Mị xõa xuống hắn cuốn luôn tóc Mị lên cột làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa”. Nhưng Mị vẫn thản nhiên, Mị không hề biết mình đang bị trói, thậm chí khi tiếng sáo nhập vào hồn Mị, Mị đã “vùng bước đi”. Điều đó cho thấy, sức sống tinh thần trong Mị đã lớn dậy, nó đã lấn át cả nỗi đau về thể xác. Cũng có nghĩa là bóng ma thần quyền, cường quyền đã khuất phục trước sức sống ấy của Mị.

    Sức sống mãnh liệt ấy lại một lần trỗi dậy trong đêm cứu A Phủ. Lúc đầu, Mị dửng dưng vô cảm trước cái chết cận kề của A Phủ. Nhưng sau đó, dòng nước mắt của A Phủ “bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” đã thức dậy lòng thương người trong Mị. Lòng thương người ấy đã làm sống dậy trong Mị sức phản kháng mạnh mẽ. Nếu nói đêm tình mùa xuân là “tia lửa nhỏ” thì đêm cứu A Phủ là “đám cháy lớn”. Đám cháy ấy bùng lên khi Mị nhận thức được tội ác cha con nhà thống lý “Trời ơi chúng trói người ta đến chết thì thôi, chúng nó trói chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này. Chúng nó thật độc ác”. Nhận thức ấy là nhận thức hoàn toàn bằng lí trí, bằng sự tỉnh táo. Từ nhận thức ấy mà sự nổi loạn thứ hai của Mị mới thật là mong muốn của người đọc. Mị đã cắt đứt dây trói cho A Phủ. Rồi Mị cũng vụt chạy theo A Phủ vì theo Mị “Ở đây thì chết mất”. Hơn một lần trong truyện này Mị sợ chết. Lần đầu là thức dậy sau đêm bị trói nghĩ đến người đàn bà đời trước bị trói đến chết trong căn nhà này “Mị sợ quá. Mị cựa quậy xem mình còn sống hay là đã chết”. Lần thứ hai là lúc Mị cắt đứt xong dây trói cho A Phủ. Như vậy, sợ chết là biểu hiện cao độ nhất của lòng ham sống. Đó là vẻ đẹp sức sống tiềm tàng của con người lao động Tây Bắc và niềm tin của nhà văn vào khả năng vươn dậy của nhân vật.

    Bên cạnh đó, nhà văn Tô Hoài còn nhìn thấy bản chất đẹp đẽ của A Phủ, một chàng trai của núi rừng tự do. Anh yêu lao động, giỏi giang: “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và săn bò tót rất bạo…”. A Phủ rất khỏe, chạy nhanh như ngựa. A Phủ đã trở thành niềm khát khao của bao cô gái trong làng “ Lấy được A Phủ là bằng được con trâu tốt trong nhà”. Nhưng A Phủ nghèo nên không lấy được vợ. Tuy vậy, vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, A Phủ vẫn sống một đời sống tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ. “Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác, A phủ chỉ có độc một chiếc vòng trên cổ. A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn con quay và quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng”. Trong cảnh xử kiện, dù bị đối xử tàn tệ nhưng A Phủ chỉ quỳ và “im như tượng đá” đó là bản tính gan góc rất đáng quý. Lúc được Mị cứu, dừ đã kiệt sức nhưng A Phủ đã “quật sức vùng lên chạy”. Phải chăng ở con người đó luôn tiềm ẩn lòng yêu đời, khát sống, khát tự do. Có lẽ vì vậy mà khi sang Phiềng Sa, A Phủ đã nhanh chóng trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng Mị giải phóng quê hương.

    Biểu hiện sau cùng và cũng là biểu hiện mới mẻ nhất của tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là việc nhà văn đã chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động là đi từ tự phát đến tự giác. Mị và A Phủ từ tăm tối đau thương đã vươn lên ánh sáng của tự do và nhân phẩm. Họ đã cùng nhau đạp qua đêm tối, vươn đến ngày mai ở Phiềng Sa, nên vợ nên chồng. Cả hai người đã theo Cách mạng, theo Đảng, đánh giặc, bảo vệ quê hương và thay đổi số phận của mình. Cũng qua đó, tác giả đã bày tỏ thái độ bênh vực quyền sống của con người và là bài ca ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động, đặc biệt là sức sống tiềm tàng và hành động tự giải phóng của nhân vật, đồng thời đặt niềm tin và sự trân trọng, nâng niu đối với khát vọng sống tốt đẹp của con người dù bị đày đọa đau khổ.

    Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, “Vợ chồng A Phủ” còn có những thành công đặc biệt về phương diện nghệ thuật. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo. Miêu tả phong tục, tập quán, phong cảnh thiên nhiên sinh động. Nghệ thuật kể truyện sinh động, tự nhiên, hấp dẫn. Ngôn ngữ tác phẩm rất tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi và thực sự đã để lại dấu ấn của Tô Hoài.

    Tóm lại, “Vợ chồng A Phủ” mang ý nghĩa tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người, sự nâng niu nét đẹp tâm hồn mà hơn cả là sự hướng tới giải phóng cho con người tiêu biểu là số phận của Mị và A Phủ. Chính vì những giá trị nhân văn cao đẹp ấy mà nửa thế kỷ trôi qua, tác phẩm của Tô Hoài vẫn giữ được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong lòng bao thế hệ bạn đọc.

  • Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Bài làm

    Nhà văn Tô Hoài từng khẳng định: xây dựng nhân vật là điều cốt yếu nhất của tác phẩm. Nhân vật không cần luôn luôn xuất hiện, không cần miêu tả quá nhiều, quá kĩ nhưng vẫn đủ để tạo ra sức ảnh hưởng với tác phẩm và người đọc. Đó là cách mà nhà văn xây dựng nhân vật A Phủ, góp phần làm nên thành công của “Vợ chồng A Phủ”.

    Tập “Truyện Tây Bắc” là vụ mùa thu hoạch từ chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Tô Hoài năm 1952. Có thể nói: “đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên….” chẳng những nhắc nhớ người nghệ sĩ ấy ngày quay trở lạ mà còn “phải đem trả cho những người thương ấy” “một tấm lòng mình, một cái gì làm hiện lại cả cuộc đời người Hmông trung thực, chí tình…”. Bằng tấm lòng chân phương ấy, “Vợ chồng A Phủ” đã ra đời. Cốt truyện vừa quen mà lại lạ. Câu chuyện về kiếp người bé mọn, gặp nhiều bất hạnh, đắng cay nhưng nhờ những phẩm chất cao quý đã được đổi đời – mô típ quen thuộc của truyện cổ tích. Nhưng nhân vật chính được đổi đời không phải bằng phép nhiệm màu cổ tích mà phép nhiệm màu ấy do chính con người tạo ra và do thời đại mang tới. Cùng với nhân vật Mị, cuộc đời A Phủ đã khẳng định điều đó.

    Số phận của nhân vật có thể gói gọn trong hai chữ khổ đau. Từ thuở ấu thơ, A Phủ phải chịu khổ, nỗi khổ “mồ côi cha mẹ” (Sau một lần làng bị bệnh dịch, cả gia đình chỉ còn lại A Phủ). A Phủ là trẻ thơ mà không có tuổi thơ, lang thang màn trời chiếu đất, lưng thung đầu núi, trưởng thành lại trở thành món hàng bị người làng bán cho người Thái. Lúc trưởng thành, vì “nghèo nên không lấy được vợ”, dù có đủ phẩm chất để hưởng hạnh phúc nhưng không có một nẻo đường để mơ về hạnh phúc. Hạnh phúc. Với A Phủ, hạnh phúc xa như nước dưới nguồn, mây trên núi, mãi không thể chạm tới. Rồi A Phủ còn phải chịu khổ, nỗi khổ thành con ở gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Lý do chỉ vì đã dám đánh con quan làng nên bị “tội”, phải làm con ở cho nhà địa chủ. Ở xã hội ấy, kẻ dám đứng lên bảo vệ lẽ phải lại là kẻ thành tội đồ; kẻ là bị cáo thì trở thành vô can còn bố của bị can lại ngồi ghế của quan tòa. Một pha xét xẻ đầy vô lí, bị cáo bị đánh đập, trừng phạt vô lí trước khi bị luận tội, chịu cảnh “quýt làm cam chịu”, mãn kiếp truyền đời bị bóc lột sức lao động. Khi làm mất một con bò cũng bị trói đứng đến khi A Sử bắt được con hổ kia về. Khi bị đánh, phản ứng của A Phủ chỉ im như tượng đá, cam chịu, nhẫn nhục. Khi bị trói, giọt nước mắt hiếm hoi của người đàn ông cũng trào ra.

    Nhưng ta còn thấy ở A Phủ vẻ đẹp, phẩm chất đáng quý của con người miền núi cũng như con người Việt Nam: cường tráng về thể chất, khỏe khoắn về tinh thần. Một chàng trai hồn nhiên trong sáng: ngày Tết dù không có gì, A Phủ vẫn đi chơi và trở thành linh hồn của các cuộc chơi. Đó là một chàng trai ngay thẳng: A Phủ đánh A Sử khong phải vì kẻ trả thù và dám làm dám chịu. Đứng trước “ban xét xử”, A Phủ chịu đòn và không hề kêu van. Khi làm mất bò của nhà Thống lí, A Phủ có ý thức lập công chuộc tội nhưng không được. Đặc biệt ở đó là khát vọng tự do mãnh liệt. Thời ấu thơ, A Phủ không chịu ở dưới cánh đồng thấp. Đôi chân đã quen với băng đồng bằng đôi mắt đã quen nhìn, đôi tai quen nghe, A Phủ ý thức được khao khát tự do đang chảy tự nhiên trong huyết quản của mình. Rồi khi bị trói, A Phủ không chịu mà nhay đứt dây mây. Khác với những chi tiết trước, ta hầu như thất vọng khi A Phủ cam chịu để thống lí trói mình, thân trâu quen mang ách mang tròng, thân ngựa quen bị cầm cương. Nhưng khi cắt dây mây, dù là thân trâu kiếp ngựa nhưng ở chàng trai ấy vẫn vẹn nguyên trái tim, khát vọng sống của con người. Như vậy, khi bị dồn vào cảnh cùng đường tuyệt lộ, A Phủ khóc. Dòng nước mắt lấp lánh được phản quang bởi ánh lửa sưởi ấm trong đêm đông của Mị, lấp lánh của chất vàng mời, của chất ngọc quý trong tâm hồn. Khi được Mị cởi trói, trong cảnh sức cùng lực kiệt nhưng trước cái chết có thể đến nhanh, lại quật sức vùng chạy. A Phủ băng tới ánh sáng, vươn tới sự tự do không chỉ bằng sức mạnh đôi chân mà còn bằng sức mạnh của lòng ham sống, tự do. Khát vọng sống mở đường sống cho A Phủ và Mị. Họ đều phải vươn dật bằng sức mạnh tự thân trong điều kiện và khả năng có thể.

    Ngôn ngữ giản dị, như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân tộc miền núi. Nhân vật A Phủ chủ yếu được khắc họa qua hành động là chính, phù hợp với đặc điểm nhân vật. Dẫu số phận có khổ đau, bất hạnh nhưng cuối cùng, bằng sức sống và ý chí của mình, nhân vật vẫn tìm được hạnh phúc, ánh sáng trên con đường mới của mình. Đó chính là bản lĩnh và tư tưởng của Tô Hoài khi ca ngợi con người với sức mạnh tiềm tàng – chạm tới vấn đề muôn thuở của nhân sinh. Mượn câu chuyện một thời để nói chuyện muôn đời. Đó chính là bí mật để tác phẩm mới rất lâu, trẻ rất dài và thoát khỏi quy luật nghiệt ngã của thời gian.

  • Phân tích chi tiết chất hiện thực và trữ tình trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Phân tích chi tiết chất hiện thực và trữ tình trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Phân tích chi tiết chất hiện thực và trữ tình trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Bài làm

    Tây Bắc – miền đất đã gửi bao thương nhớ, gieo bao nỗi niềm trong tâm hồn nhạy cảm của vô vàn nhà thơ, nhà văn Việt Nam, và trong đó ta không thể không nhắc đến Tô Hoài. Ông viết nhiều về Tây Bắc và viết rất hay, tác phẩm tiêu biểu về đề tài này có thể kể đến truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Chất hiện thực và trữ tình là một khía cạnh nghệ thuật thu hút sự quan tâm của rất nhiều người đọc khi tìm hiểu về tài năng Tô Hoài và tác phẩm đặc biệt này.

    Trong một chuyến đi thực tế cùng bộ đội tham gia giải phóng Tây Bắc năm 1953, những trải nghiệm quý giá nơi đây đã chắp cánh cho cảm hứng Tô Hoài để ông viết nên “Vợ chồng A Phủ”. Tại miền đất này, ông đã có cơ hội trải nghiệm và hiểu hơn kiếp sống tủi nhục của người lao động vùng cao những năm Cách mạng chưa về đồng thời với sự quan sát tỉ mỉ và tinh tế, nhà văn đã khám phá ra và trân trọng biết bao vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động ấy. Chất men say của con người, núi rừng Tây Bắc đã lưu lại trong ông nhiều ấn tượng mạnh mẽ và nhờ thế truyện ngắn đặc sắc “Vợ chồng A Phủ” đã đến với người đọc. Chất trữ tình và hiện thực trong truyện là một nét đặc sắc được rất nhiều người quan tâm và cảm phục tài năng thể hiện của tác giả qua từng trang văn.

    Xuyên suốt những trang văn “Vợ chồng A Phủ”, chất hiện thực được nhà văn Tô Hoài phác họa rất sinh động và hấp dẫn. Trước hết, đó là hiện thực về một xã hội bất công nơi cái ác, cái cường quyền bạo lực của bọn chúa đất chúa mường chà đạp, áp bức dã man lên cuộc sống những người dân lao động nghèo vùng cao Tây Bắc. Bọn quan lại phong kiến đã dùng thói cho vay nặng lãi để lừa người nghèo, khiến họ gặp phải những nỗi thống khổ nhọc nhằn để có được những hạnh phúc nhỏ bé. Mị trở thành con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra chính là một biểu hiện rõ nét ở thủ đoạn gian ác của chúng. Bên cạnh Mị – cô con dâu nhà giàu mang thân kiếp trâu ngựa, A Phủ cũng là một nạn nhân của xã hội này. Dù là người đứng ra bảo vệ lẽ phải, một người lương thiện, chăm chỉ nhưng A Phủ vẫn bị chúng bắt bớ, đánh đập oan, trở thành con nợ không công cả đời nhà thống lí. Chỉ trong những trang truyện ngắn, Tô Hoài đã phác họa chân thực bức tranh cuộc sống xã hội vùng cao thời Cách mạng chưa về, để từ đó người đọc thấu hiểu và sẻ chia, cảm thương với số phận những người lao động thấp cổ bé họng đồng thời căm phẫn, lên án thế lực phong kiến bạo tàn, độc ác chà đạp lên cuộc sống người dân.

    Bên cạnh chất hiện thực, Tô Hoài còn phác họa trong truyện ngắn của mình những nét trữ tình ấn tượng. Để nhân vật hiện lên rõ nét với tâm lý, hành động ở từng chi tiết, nhà văn đã xây dựng nên một nền cảnh thiên nhiên đất trời Tây Bắc vào xuân ấm áp, tràn đầy sức sống. Sức sống tươi mới của mùa xuân đã đem đến cho đất trời nơi đây sắc màu rực rỡ, âm thanh rộn rã. Ngày Tết ở Hồng Ngài ngập tràn một màu sắc tươi sáng, ấm nồng:màu cỏ gianh vàng ửng, màu sắc rực rỡ của những chiếc váy hoa của những cô gái Mông Đỏ đã được phơi ra mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ, sắc hoa thuốc phiện nở trắng lại nở màu đỏ hau, đỏ thâm rồi nở màu tím man mác. Trong không gian ngập tràn màu sắc ấy còn rộn rã âm thanh: tiếng chó sủa xa xa rất đỗi thân quen của làng bản Tây Bắc, tiếng cười đùa trong trẻo, hồn nhiên của đám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Và đặc biệt, trong không gian ấy còn nổi bật tiếng sáo lấp ló, lửng lơ bay ngoài đường: “Anh ném pao/ Em không bắt/ Em không yêu/ Quả pao rơi rồi…”. Sắc màu, âm thanh cùng hội tụ tạo nên một không khí rất đỗi yên bình, vui tươi và ấm áp. Chất trữ tình còn được nhà văn thể hiện ở cái tài của con người Tây Bắc. Dẫu có khổ cực trăm bề, thân phận bị áp bức tột cùng nhưng đời sống tâm hồn họ vô cùng sâu sắc. Mị là người con gái đẹp và có tài thổi sáo rất giỏi, Mị thổi lá cũng hay như thổi sáo làm bao chàng trai đêm ngày đi theo tiếng sáo của Mị. Còn ở nhân vật A Phủ, ta bắt gặp sự mạnh mẽ, cường tráng và một tâm hồn rất mực hồn nhiên, trong sáng. Cái đói nghèo, cô đơn cũng không thể ngăn cản được A Phủ tham gia những buổi hội vui ngày Tết và trở thành linh hồn, đem đến sức sống, niềm vui cho cuộc chơi. Cả hai nhân vật Mị và A Phủ, sau bao nhẫn nhục, cam chịu áp bức, với niềm khát vọng sống và khát khao hạnh phúc mãnh liệt, họ đã giải phóng bản thân, giải phóng cuộc đời để đến với một tương lai tươi sáng hơn.

    Có những tác phẩm thành công khi nhà văn chỉ đưa chất hiện thực hoặc trữ tình vào tác phẩm của mình. Nhưng ở trang văn Tô Hoài, và đặc biệt là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, chất hiện thực và trữ tình được nhà văn khéo léo đan cài vào nhau, cùng nhau tạo nên dấu ấn riêng cho tác phẩm đồng thời gửi gắm những nghĩ suy, cảm xúc của tác giả về thiên nhiên, về con người Tây Bắc đã để lại trong ông biết bao thương nhớ.

  • Phân tích sự hồi sinh của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. Liên hệ với sự hồi sinh của Chí Phèo vào buổi sáng đầu tiên sau khi tỉnh rượu trong tác phẩm Chí Phèo

    Phân tích sự hồi sinh của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. Liên hệ với sự hồi sinh của Chí Phèo vào buổi sáng đầu tiên sau khi tỉnh rượu trong tác phẩm Chí Phèo

    Phân tích sự hồi sinh của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. Liên hệ với sự hồi sinh của Chí Phèo vào buổi sáng đầu tiên sau khi tỉnh rượu trong tác phẩm Chí Phèo

    Bài làm

    Hiện thực trong tác phẩm nghệ thuật, không phải phân cảnh nào cũng rực rỡ ánh sáng. Văn học có cái tươi vui thuần khiết cũng có cái u tối mịt mù. Nhưng tư cách nhà văn luôn tồn tại như những “kẻ nâng giấc mơ” (Nguyễn Minh Châu). Xây dựng hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài với tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” đã nâng đỡ cho đôi cánh khát vọng sống của người con người bị cùng đường mạt lộ bay cao. Sự hồi sinh trong đêm tình mùa xuân của Mị là một đoạn văn thể hiện rõ sứ mệnh ấy. Đó cũng là điều mà Nam Cao gửi gắm thông qua sự hồi sinh của Chí Phèo vào buổi sáng đầu tiên sau khi tỉnh rượu.

    Tô Hoài là cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam. “Vợ chồng A Phủ” là một trong những sáng tác để lại dấu ấn đậm nhất trong sự nghiệp của nhà văn. Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc trong tám tháng. Cuộc sống và con người nơi đây là chất men say cho tâm hồn Tô Hoài viết lên “Vợ chồng A Phủ”. Đoạn văn tái hiện lại sự hồi sinh của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân là đoạn văn tập trung nhất bút lực của nhà văn.

    Trước đêm tình mùa xuân ấy, Mị vẫn sống lặng câm, lùi lũi “như con rùa nuôi trong xó cửa”. Sự hồi sinh của Mị trong đêm tình mùa xuân là sự tác động của một loạt các tác nhân. Đó là một đêm xuân-mùa của chồi non lộc biếc, làng mở lễ, trai gái mở hội lòng. Xuân là là sắc “xuân” của vũ trụ, của trần gian. Nhà văn dùng thanh xuân của đất trời để khơi gợi thanh xuân của con người. Trong sắc xuân ấy, cảnh vật, không gian hiện lên cũng nồng đượm vị xuân. Có màu xuân: màu vàng của hoa bí đỏ, “vàng ửng” của cỏ gianh, màu “sặc sỡ” như con bướm của những chiếc váy dân tộc. Có âm thanh quen thuộc , yên bình của bản làng: tiếng chó sủa xa xa, tiếng “cười ầm” của trẻ em chơi quay trước sân nhà, và Mị còn nghe thấy “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”. Tiếng sáo, khi thì “lấp ló” nơi đầu núi, khi “văng vẳng” đầu làng, lúc lại “thiết tha bổi hổi” trong lòng Mị, khi thì “lửng lơ” gọi mời. Không khí ngày tết yên bình, vui tươi và ấm áp ẩn trong những sắc vàng đón nắng mới, trong ngọn lửa “đốt lều canh nương”, trong men rượu ngô song sánh cúng trình ma ngày tết. Đoạn văn đã kết tinh bút lực của Tô Hoài, đó là sự hiểu biết về phong tục vùng cao, khả năng miêu tả thiên nhiên và phong tục bằng vốn ngôn ngữ phong phú, giàu có, đậm đà màu sắc dân tộc.

    Dưới sắc xuân rực màu sắc và thanh âm ấy, sức sống của Mị quay trở lại bằng sự hồi sinh mạnh mẽ. Sự hồi sinh bắt đầu với những giác quan cơ bản nhất. Đó là đôi mắt, không còn “lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” nữa mà đã nhìn thấy những sắc màu rực rỡ: đỏ, vàng, thậm chí Mị còn cảm nhận được sắc “vàng ửng”của cỏ gianh. Đó không chỉ là những sắc màu đơn thuần mà nó là sắc màu của cuộc sống tươi vui ngoài kia, là vệt màu của tự do ẩn hiện trong từng ngọn cỏ dáng núi. Nếu trước đôi tai Mị chỉ nghe thấy tiếng chân ngựa đạp vách thi nay lại nghe được những âm thanh vui tươi, gọi mời. Tiếng cười con trẻ khiến lòng Mị nóng lên những xúc cảm hồn nhiên của cuộc sống tự do. Thân xác Mị không còn héo hon ủ rũ mà bắt đầu rạo rực bởi men say của bát rượu ngô, bởi hơi lửa nóng ấm chạm vào da thịt. Tiềm thức Mị trỗi dậy, Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi:

    “Mày có con trai có gái rồi

    Mày đi làm nương

    Ta không có con trai con gái

    Ta đi tìm người yêu.”

    Lời hát tựa như bật ra từ tâm hồn thẳm sâu, từ sự quen thuộc của một kí ức đã lâu ngày ngủ quên của Mị. Những thứ tưởng đã khóa kín nay lại thức dậy tìm về, bung tỏa ra như bông hoa nở trong tâm hồn người con gái ấy. Kí ức tràn vào tiềm thức thông qua chất lỏng nóng ấm của bát rượu ngô chẳng trong cổ họng: Mị “sống” về ngày trước. Không phải “nhớ” mà là “sống” về ngày trước. Quá khứ không chỉ hiện về trong trí nhớ mà nó còn đưa Mị trở về trọn vẹn với tháng ngày tự do tự tại, xóa đi mọi trói buộc khổ đau ở hiện tại để Mị trở về những đêm hội mùa xuân tình tứ ấy. Hành động “cứ uống ực từng bát” đồng nghĩa với cái đắng cay của hiện tại mà Mị muốn nuốt cho sâu, vùi cho chặt tận đáy lòng. Chỉ khi hiện tại ngủ yên thì quá khứ mới có đường quay trở lại. Quá khứ, giác quan quay trở lại, và cảm xúc của Mị cũng bừng tỉnh: “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đọt nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước.”.

    Lòng dập dìu như men rượu sóng sánh, tâm hồn lại phơi phới cũng là lúc nhận thức về điều đã đánh mất thức dậy trong lòng Mị. Mị thấy Mị còn “trẻ lắm”, nên “Mị cũng muốn đi chơi”. Tuổi trẻ đúng nghĩa quay trở lại khiến lòng Mị rạo rực những khát vọng. Mị bắt đầu sửa soạn đi chơi: “đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Không gian tối tăm được ánh lửa chiếu rọi, Mị không muốn sống trong bóng tối nữa. Điệp từ “Mị”, các động từ được sử dụng liên tiếp kết hợp với câu ngắn, nhịp nhanh diễn tả những hành động hối hả, tốc độ mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt của một con chim muốn tháo cũi sổ lồng. Khi bị A Sử trói đứng vào cột nhà, Mị “vùng bước đi”. Sợi dây đay nghiệt ngã của số phận chỉ có thể trói được đôi chân nhưng không buộc được đôi cánh tâm hồn Mị. Con chim dù không thoát khỏi lòng chật nhưng nhưng tiếng ca khát vọng vẫn bay bổng đến tận trời xanh. Thoát khỏi hỏi quá khứ, đến sáng hôm sau, Mị lại trở về với thực tại. Tuy nhiên nhận thức về sức sống đã trở về khiến cho Mị có những nghĩ suy về số phận của người đàn bà lấy chồng giàu, Mị nhớ lại người đàn bà đồng phận, Mị “sợ”, “cựa mình”. Một lần nữa Tô Hoài nói đến khát vọng sống của con người: khi con người bị dồn vào đường cùng mạc lộ, phải đối diện với cái chết thì người ta càng ham sống, càng sợ chết. Mị bắt đầu sợ cái chết, đối lập hẳn với trạng thái buông xuôi mặc số phận trước đêm tình mùa xuân. Hành động “cựa mình” chính là sự xoay chuyển của ý thức sống, là sự thứ dậy rất khẽ nhưng vô cùng rõ ràng của khát vọng tự do.

    Sự hồi sinh của Mị trong đêm tình mùa xuân dường như gợi nhắc lại cho ta về sự thức dậy của Chí Phèo trong buổi sáng đầu tiên sau khi tỉnh rượu trong tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao. Sự xuất hiện của Thị Nở – người đàn bà xấu xỉ, dở hơi nhưng lại có trái tim giàu yêu thương và sự tự thức tỉnh sau những cơ say triền miên là những yếu tố làm hồi sinh lại sức sống của Chí. Chí thức dậy vào sáng hôm sau, những giác quan thoát khỏi men rượu dần dần cảm nhận được cuộc sống. Hắn nghe thấy âm thanh bình dị của tiếng người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng chim hót. Đó là những âm thanh của tự nhiên, của cuộc sống sinh hoạt và của lao động miệt mài. Sự bình dị ấy kéo tâm trí hắn trôi về quá khứ, cái thời mà hắn từng mơ về cuộc sống tương lại êm dịu và giản dị như thế: một gia đình nho nhỏ, cùng nhau trông cấy chăn nuôi, yên bình vượt qua những vất vả mưu sinh. Rồi hắn lại nghĩ về chính cái thân mình bây giờ, tàn tạ, già nua, bệnh tật, và cô độc. Hắn biết, biết rất rõ chỉ có mình mình sống một thế giới. Những cơn say triền miên của Chí thực ra là con đường duy nhất mà Chí có thể tìm đến để quên đi hiện thực bị bỏ rơi như vậy. Khi hắn còn ngẩn ngơ bởi những thức nhận thì bát cháo hành của Thị Nở đến, mang cho hắn đủ những cung bậc cảm xúc dồn dập trong tâm trí hắn, buồn bã, tiếc nuối, ngạc nhiên, xúc động,…Sự trỗi dậy lên cao nhất là khi khát vọng được sống cho ra sống, sống hòa nhập và gắn bó với mọi người, khát khao thèm lương thiện lại quay trở lại với Chí tựa như cái ngày hắn còn trẻ, còn thuần nông như xưa ấy. Không còn là con quỷ dữ làng Vũ Đại nữa, Chí bây giờ là một con người có tính người, nói ra khát vọng nhỏ nhoi với thị: “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”, “Hay mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui.”. Lời nói hiền lành, mang theo ý vị trân trọng, thậm chí là đầy khát khao và mong chờ hồi đáp của Thị Nở. Cả Mị và Chí Phèo đều có sự thức nhận, từ những điều nhỏ nhất cho đến những suy nghĩ, hành động lớn lao để rồi chuyển hóa thành khát vọng. Những tác động bên ngoài đều bình dị, vẫn diễn ra, chỉ là Mị và Chí đều tự khóa chặt đôi tai, làm mờ đôi mắt để tự cô lập mình với thế giới bên ngoài, để quên đi hiện thực và phó mặc cho số phận định đoạt. Nhưng mọi điều có thể qua đi, chỉ có bản chất là ở lại. Bản chất của Mị là tự do, là cô gái tràn sức sống. Bản chất của Chí là hiền lành, chất phác, thuần hậu hệt như đất. Nên, sự thức tỉnh luôn trực chờ trong họ, chỉ cần một tác động nhỏ thôi, ví như sắc màu và thanh âm bình dị của cuộc sống, ví như hương thơm của thứ cháo hành loãng và nhạt toẹt cũng khiến họ trở mình, tìm đến quá khứ, “sống” lại quá khứ ấy và mơ, và khát vọng cho tương lai. Sự hồi sinh trong hai nhân vật, dưới ngòi bút hai nhà văn đều là sự tự giải thoát khỏi đau khổ, là bản chất vĩnh hằng của con người khi lâm vào đường cùng mạt lộ.

    Sự hồi sinh của Mị và Chí Phèo góp phần thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm. Tô Hoài và Nam Cao, những nhà văn chân chính, thực sự đã trở thành những “kẻ nâng giấc mơ”, nâng đôi cánh của bản chất thuần lương, đôi cánh của khát vọng bay cao. Và hai nhà văn, hai tác phẩm không chỉ nâng cánh cho Mị, cho Chí Phèo mà còn nâng bước cho những đôi chân đang mệt mỏi, tuyệt vọng ngoài kia, truyền cho người đọc sức mạnh tinh thần để tiếp tục sống, tiếp tục ngắm nhìn và cảm nhận cuộc đời dù là trong gian khó.

  • Tô Hoài cho rằng: “Ngay trong văn xuôi cần phải đượm hồn thơ, có như thế, văn xuôi mới trong sáng cất cao”. Điều đó thể hiện như thế nào qua “Vợ chồng A Phủ”

    Tô Hoài cho rằng: “Ngay trong văn xuôi cần phải đượm hồn thơ, có như thế, văn xuôi mới trong sáng cất cao”. Điều đó thể hiện như thế nào qua “Vợ chồng A Phủ”

    Tô Hoài cho rằng: “Ngay trong văn xuôi cần phải đượm hồn thơ, có như thế, văn xuôi mới trong sáng cất cao”. Điều đó thể hiện như thế nào qua “Vợ chồng A Phủ”

    Bài làm

    Một người nghệ sĩ tài ba,một người nghệ sĩ mẫn cảm là người phải tìm thấy chất thơ của cuộc sống, hương vị của cuộc đời ở những chỗ tưởng chừng như không có một chút thơ nào. Tô Hoài là một nhà văn như thế bởi “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm thấm đẫm và lai láng chất thơ. Có được điều đó là bởi Tô Hoài luôn tâm niệm “ngay trong văn xuôi cần phải đượm hồn thơ, có như thế, văn xuôi mới trong sáng cất cao”.

    Văn xuôi là một thể loại văn học, phản ánh đời sống khách quan thông qua cốt truyện, nhân vật, chi tiết, tình huống… Hồn thơ là cảm xúc, cái đẹp bay bổng vút lên từ cái đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và đặc biệt là con người. Như vậy nhận định vừa là một yêu cầu, vừa là một quan niệm riêng của nhà văn đề cập tới một vấn đề cơ bản của văn học: chất trữ tình trong văn xuôi nói chung đặc biệt là văn xuôi tự sự.

    Hồn thơ trong “Vợ chồng A Phủ” trước hết thể hiện trong cảm xúc của Tô Hoài trước thiên nhiên và phong tục vùng cao. Nhà văn chọn thời điểm mùa xuân- mùa của sinh sôi nảy nở, của chồi non lộc biếc, là tuổi thanh xuân của đất trời, mùa của những lễ hội rộn ràng muôn nơi để làng mơ thộp và trai gái mở hội lòng. Tô Hoài đã mượn thời khắc thanh xuân của đất trời để khơi dậy thanh xuân của lòng người. Không gian tràn ngập sắc màu với màu vàng ửng, màu đỏ của hoa bí, màu sặc sỡ của những chiếc váy như những con bướm khổng lồ, màu hồng của lửa. Tất cả đều là những gam màu tươi và ấm. Âm thanh quen thuộc, gần gũi, rộn ràng của bản làng và cuộc sống: tiếng chó sủa xa xa, tiếng trẻ con cười ầm trước sân nhà, tiếng sáo khi lấp ló ngoài đầu núi, khi văng vẳng đầu làng, lúc thiết tha bổi hổi trong kí ức… Như vậy cảnh Hồng Ngài đón tết mùa xuân đã tập trung bút lực của Tô Hoài với sự hiểu biết về phong tục vùng núi Tây Bắc, khả năng miêu tả thiên nhiên, phong tục và ngôn ngữ phong phú, đậm đà màu sắc dân tộc… Bức tranh thiên nhiên, phong tục độc đáo góp phần làm phong phú những trang văn viết về đề tài miền núi. Đến với Tô Hoài ta mới thấy bên những bóng tối của nỗi đời cơ cực, đắng cay vẫn hé lộ những nguồn sáng trong trẻo, nguyên sơ, bất diệt của thiên nhiên và phong tục vùng cao. Bên những trang đời đắng cay vẫn còn nguyên chất thơ bay bổng, dạt dào của thiên nhiên và con người.

    Chất thơ không chỉ bàng bạc nơi thiên nhiên mà còn toát lên trong cảm xúc của Tô Hoài trước vẻ đẹp của hai nhân vật Mị và A Phủ. Mị là một cô gái trẻ, thùy mị nhưng vì “cha mẹ ăn bạc của nhàm giàu từ kiếp trước” mà kiếp này người ta bắt bán con trừ nợ. Khi biết sắp bị bắt đi làm dâu nhà quan, Mị xin cha “con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con sẽ cuốc nương làm ngô trả nợ thay cho bố”. Chỉ một lời nói nhưng là cả tấm lòng hiếu thảo của người con gái lớn khôn có ý thức ghé vai gánh vác gánh nặng mưu sinh. Hơn ai hết, Mị hiểu rằng khi sa chân vào chốn nhà quan thì Mị sẽ đoạn tuyệt với tình yêu, tự do, tuổi trẻ nên Mị ý thức về giá trị sự sống mà xin cha “bố đừng bán con cho nhà giàu”. Mị- người con gái vùng cao thường rất kiệm lời nên nội tâm sục sôi,mãnh liệt của họ thường được trao gửi trong tiếng khèn, tiếng sáo. Tâm hồn sâu sắc, phong phú được gửi vào tiếng thổi lá, Mị có tài thổi lá hay như thổi sáo, có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Trước khi về cửa nhà thống lí, Mị đẹp như một bông hoa rừng. Đó là một người con gái chăm chỉ, giàu lòng hiếu thảo và có ý thức về giá trị của sự sống. Tuy nhiên Mị chưa kịp nếm những trái ngọt của cuộc đời đã phải cay đắng tìm đến nắm lá ngón để kết liễu cuộc đời. Nhưng vì tình thương cha, lòng hiếu thảo mà Mị không đành chết nên vứt nắm lá ngón, trở lại nhà thống lí và chôn vùi tuổi thanh xuân nơi địa ngục trần gian ấy. Giờ đây Mị sống là cái bóng vô cảm, vô hồn, lãng quên dĩ vãng, không gắn bó với hiện tại, chẳng đoái hoài đến tương lai. Phải chăng, cuộc sống thực tại đã làm tâm hồn Mị nguội lạnh, thờ ơ, phải chăng cô Mị xinh đẹp ngày xưa nay phải cam chịu cảnh sống mà như chết? Thế rồi âm thanh tiếng sáo đã khơi dậy sức sống ẩn náu trong Mị: “ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha, bồi hồi”. Mị còn nhớ như in những lời hát tình tứ mà Mị đã nghe, đã hát, đã thổi sáo, thổi kèn lá ngày nào. Tiếng sáo giờ đây đã thấm vào trái tim Mị, thức tỉnh sự câm lặng bấy lâu. Rồi Mị uống rượu, men rượu hay men cuộc đời đã nâng bổng tâm hồn Mị lên, vượt khỏi cái ô cửa “mờ mờ trăng trắng kia”. Khát vọng được đi chơi bỗng bùng cháy. Từ đầu là những âm thanh xa xôi, sau đó tiếng sáo trở thành lời mời gọi giúp Mị lãng quên quá khứ, sống vui vẻ với tương lai “tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, đám chơi”. Con người hiện tại dường như đã chết, con người quá khư đang dần dần từng bước được hồi sinh. Mị như cây hoa ban, hoa đào Tây Bắc trước lúc vào xuân, nhìn bề ngoài thì có vẻ khẳng khiu, khô gầy, mỏng manh nhưng bên trong sức sống vẫn âm ỉ, chờ thời để bừng sáng sắc xuân. Tết đến, Mị rất muốn đi chơi nhưng A Sử không cho Mị đi. Nhưng gia đình nhà thống lí không thể cưỡng éo được một con người sức sống đang còn cháy rực trong tâm hồn. “Cô không thể dằn lòng được”, “Mị vùng dậy khêu đèn sáng, cuốn lại tóc, mặc váy hoa vắt ở vách” toan bước đi, tìm đến nơi đang lửng lơ bay tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha. Nhưng Mị toan bước đi thì sợi dây mây của A Sử, sợi dây nghiệt ngã của số phận đã trói đứng Mị vào cột nhà. Và bây giờ Mị mới bật khóc, khóc cho cái oan trái của một kiếp người khao khát muốn sống, muốn yêu mà lại bị ghì chặt vào một cuộc sống “không bằng con ngựa”. Trong bóng tối, cô đag mơ màng đi theo tiếng sáo. Nhưng rồi quá khứ chưa đi, hiện tại lại về. “Mị vùng bước đi, nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa”.

    Đêm tình mùa xuân khép lại, hé lộ sự phục sinh mạnh mẽ hơn trong đêm đông cứu A Phủ của nhân vạt Mị. Đêm đông Hồng Ngài Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay bởi lẽ cảnh hành hạ, đọa đày trong nhà thống lí là chuyện cơm bữa. Mị dửng dưng trước nỗi đau đồng loại tưởng đáng trách mà lại đáng thương. Mị đây và A Phủ kia, kẻ thì bị trói người thì không nhưng cũng cùng thân giống phận. Khi chứng kiến dòng nước mắt lấp lánh bò trên hai hõm má đã xám đen lại chả A Phủ, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử cũng trói đứng Mị như vậy. Mị thương thân rồi cảm thấy căm giận và nhủ lòng thương người. Mị tưởng tượng A Phủ trốn được thì bố con Lá Tra đổ tội cho Mị, Mị phải chết thay trong cảnh ấy. Làm sao Mị cũng không thấy sợ vì đây mới là cảnh trong hình dung tưởng tượng, cái chết còn rất xa. Sau đó, Mị cắt dây mây cởi trói cho A Phủ. “Mị đứng lặng trong bóng tối”. Câu văn ngắn, nhịp chậm tạo không khí căng thẳng, hồi hộp và như một bản lề khép mở hai trang đời. Thế rồi bản chất ham sống và khát vọng sống mãnh liệt đã thôi thúc cô gái ấy, Mị nói với A Phủ “A Phủ cho tôi đi. Ở đây thì chết mất”. Mị chạy theo A Phỉ là chạy khỏi cái chết. Hành động Mị cởi trói cho A Phủ là hành động cởi trói cho chính mình bằng khát vọng sống mãnh liệt.

    Bên cạnh nhân vật Mị, A Phủ cũng là một nốt nhấn làm nên chất theo bay bổng của tác phẩm. Tuy là chàng trai có thân phận khổ đau, nghèo khó nhưng ở con người ấy luôn ngời sáng vẻ đẹp. A Phủ lag chàng trai hồn nhiên, trong sáng khi nhà nghèo, mồ côi nhưng ngày Tết A Phủ vẫn đi chơi, chơi rất say và trở thành linh hồn cuộc chơi. Đó còn là một chàng trai trung thực khi dám đánh A Sử để bảo vệ lẽ phải, lúc quỳ chịu đánh thì im như tượng đá. Cuộc sống tuy khó khăn nhưng sâu thăm, A Phủ luôn ấp ủ kháy vọng tự do. Lúc còn bé, bị người làng bán cho người Thái ở cánh đồng thấp nhưng A Phủ không chịu mà trốn lên núi cao. Lúc bị trói, A Phủ nhay đứt vòng dây mây để giải thoát. Khi mọi con đường khéo lại, A Phủ khóc, một dòng nước mắt “lấp lánh”. Hai chữ “lấp lánh” đầy sức gợi biến dòng nước mắt thành một cái gì đó rất đẹp, thành chất ngọc tâm hồn. Trong cảnh sức cùng lực kiệt, cái chết ngay trước mắt, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy. A Phủ băng mình tới ánh sáng, tự do, cuộc sống không phải bằng sức mạnh của đôi chân mà bằng sức manh tinh thần, bằng lòng ham sống như ai đó cho rằng: “chính lòng ham sống đã mở đường sống cho A Phủ”. Hồn thơ của thiên truyện còn thể hiện qua hình thức nghệ thuật với cốt truyện mang dáng dấp của cổ tích về người con gái xinh đẹp, mồ côi, hiếu thuận và tìm được hạnh phúc nhưng hạnh phúc của nhân vật Mị không đến từ phép nhiệm màu mà chính kẻ bản thân con người. Cốt truyện vì thế quen mà lạ, tựa như cổ tích thời hiện đại. Giọng điệu khi trầm bổng khi tha thiết tạo nên sự thấu cảm, phù hợp với nhịp sống, nhịp tâm hồn.

    Pautopxki đã từng nói “nghệ sĩ là người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp”. Đúng vậy, Tô Hoài đã dấn dắt chúng ta đến với một thế giới đượm hồn thơ, một tác phẩm mãi trong sáng và cất cao.

  • Phân tích và so sánh người vợ nhặt trước và sau khi về làm vợ Tràng

    Phân tích và so sánh người vợ nhặt trước và sau khi về làm vợ Tràng

    Phân tích và so sánh người vợ nhặt trước và sau khi về làm vợ Tràng

    Bài làm

    Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực Việt Nam, ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Vợ nhặt là truyện ngắn điển hình cho phong cách sáng tác của Kim Lân, cũng là một nhân vật gây ấn tượng sâu sắc,

    Ngay từ nhan đề của câu chuyện, từ sự “nhặt” đầy rẻ rúng đã gợi nên sự bèo bọt, thấp kém của thân phận con người, đặc biệt là số phận của những người “vợ” được nhặt về, những người phụ nữ trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Trong câu chuyện này, người phụ nữ ấy chính là người vợ nhặt – người phụ nữ không tên không tuổi, vô danh vô nghĩa. Thị bị cái đói dồn đuổi, đẩy ra ngoài đường, “ngồi vêu ra” ở cửa kho thóc để nhặt những hạt rơi hạt vãi, hòa vào dòng người đói kém “không áo cơm cù bấc cù bơ”. Cái đói tàn phá, dày vò hình hài thị một cách thảm hại, làm thị trở nên tiều tụy, áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi với khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, khiến chỉ sau một tuần mà Tràng đã không nhận ra. Hơn thế, Thị mới chỉ gặp Tràng mà đã bám lấy chằng chặc, lầy là gạ ăn. Nghe anh chàng phu xe hò một câu cho đỡ nhọc (Muốn ăn cơm trắng mấy giò này / Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì), thị đã cong cớn bám lấy rồi vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng.

    Người ta thậm chí có thể hiểu lầm thị là người đàn bà trơ trẽn, chỏng lỏn khi lớn tiếng mắng Tràng vì nuốt lời, khi vô tư ăn liền một chặp hết bốn bát bánh đúc, khi Tràng chỉ đùa mấy câu mà đã sẵn sàng theo về làm vợ một cách dễ dãi. Nhưng không. Sẵn sàng theo không Tràng về làm vợ chẳng qua là vì niềm ham sống cùng khát khao hạnh phúc quá lớn. Khi đã đứng trước cái chết, rõ ràng là người phụ nữ cần xoay sở mọi cách để được sống trước đã. Trên con đuờng trở về nhà của Tràng, thị thay đổi hẳn. Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “ thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn” . Tưởng chừng Thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng e lệ và suy nghĩ như một người phụ nữ. Về nhà của Tràng, thị càng khác hơn. Khi thấy gia cảnh tuềnh toàng, thị nén một tiếng thở dài nhưng vẫn ở lại. Lúc đầu thị theo Tràng vì miếng ăn, nhưng giờ lại sẵn sàng đồng cam cộng khổ, rõ ràng là vì tình yêu thương, khát vọng sống nâng cao thành khát vọng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình. Khi người mẹ xuất hiện, thị chủ động đứng dậy chào bà cụ Tứ bằng “u”, vượt qua tất cả những ngại ngùng ban đầu, những tủi thân, tủi phận.

    Đặc biệt, chỉ qua một đêm về làm dâu, ở người con gái này đã có sự thay đổi rất nhanh. Thị dậy sớm cùng mẹ chồng thu vén nhà cửa, đem lại sinh khí cho gia đình, gây dựng nên sự sống. Nếu như trong buổi chiều gặp Tràng ở phố huyện, khi được Tràng đồng ý đãi bánh đúc ở ngoài chợ: “Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” thì buổi sáng hôm sau, trong mâm cơm ngày đói, ta không còn thấy một người đàn bà vô duyên, vô ý nữa mà mọi hành động và thái độ đều rất từ tốn, đúng mực, khi nhận bát “chè khoán” từ mẹ chồng: “Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng”. Hoá ra cái đanh đá, trở trẽn trước kia ở người đàn bà Tràng lấy làm vợ chẳng qua là do đói khát mà ra. Khi được sống trong tình thương, trong mái ấm gia đình, người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp của mình, của một người phụ nữ Việt Nam. Thị còn là người đã dấy lên niềm tin mới về cách mạng, tạo niềm tin hi vọng cho chồng khi kể chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không còn đóng thuế nữa và Việt Minh đi phá kho thóc Nhật chia cho người đói. Rõ ràng, càng khốn khổ vì đói kém bao nhiêu, ý thức xã hội của con người càng mạnh mẽ bấy nhiêu.

    Với niềm tin tưởng vào phẩm chất của người nông dân và cái nhìn theo hướng vận động tích cực, Kim Lân đã xây dựng hình ảnh người vợ nhặt tiêu biểu cho số phận những người phụ nữ trong nạn đói 1945. Nhà văn không tập trung miêu tả tâm lý nhân vật để giữ vẻ xa lạ, phù hợp với hoàn cảnh của thị, một người vợ nhặt, nhưng đằng sau giọng văn có vẻ khách quan ấy lại chính là một tinh thần nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của nhà văn, một trái tim ấm nóng sẵn sàng bao bọc và vỗ về những thân kiếp bé nhỏ bị số phận dồn đuổi. Nhân đạo nhất ở một nhà văn, không phải là thương hại loài người, ban phát tình thương, mà là dẫn đường chỉ lối, chỉ cho họ ánh sáng cuối đường hầm!

  • List trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh

    List trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh

     

    Ở bài viết này mình xin chia sẻ list trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh. Các bạn nên đọc để ứng dụng vào bài viết văn của mình nhằm đạt điểm số cao trong giờ làm văn nhé.

    Nếu bạn thấy bài viết hay hãy chia sẻ cho nhiều bạn học sinh biết nữa nhé. Cảm ơn bạn nhiều nhiều.

    1. sangtactre.com
    2. tacgiatre.com
    3. hocgioivan.com
    4. vanmau.edu.vn
    5. vanmauhaynhat.com
    6. vanhoc.edu.vn
    7. yeuvan.com
    8. baigiangvanhoc.com
    9. kenhtailieu.com
    10. blogvanmau.com
    11. trumvanmau.com
    12. webvanmau.com
    13. vanmauvietnam.com
    14. sotaynguvan.com
    15. tailieuphothong.​com
    16. kenhvanmau.edu.vn
    17. yeuvietvan.com
    18. vanhochay.com
    19. sotayvanmau.com
    20. tailieuvietnam.com
    21. thuvienvan.com
    22. baihocmoi.com
    23. caybuttre.com
    24. luyenthivan.com
    25. vanhocnhanhoc.com
    26. khotangvanmau.com
    27. tapchivanhoc.com
    28. khovanmau.com
    29. thivietvan.com
    30. soanvanmau.com
    31. vantonghop.com
    32. tacgiatacpham.com
    33. wikivanmau.com
    34. tailieuhoctap.edu.vn
    35. baivanhay.com
    36. vanmauhocsinh.com
    37. tuyentapvan.com
    38. vietvanhoctro.com
    39. vanmau.top
    40. vanmauonline.com
    41. baisoan.com
    42. bailamvan.com
    43. vanban.edu.vn
    44. nhabaotre.com
    45. baigiangvan.com
    46. thuvienhocsinh.com
    47. baivietvan.com
    48. kienthucvan.com
    49. vanmauphothong.com
    50. hocvanvanhoc.com
    51. kenhgiaoduc.edu.vn
    52. vanmaubathu.com
    53. taplamvan.​edu.​vn
    54. vanmauhoctro.com
    55. vanhocvui.com
    56. vanhaychutot.edu.vn
    57. thegioivanmau.com
    58. yeuvanmau.com
    59. vanmau.org
    60. giaovienvan.com
    61. vanhaychutot.com
    62. khotangvan.com
    63. nhungbaivanhay.vn
    64. vanmau.mobi
    65. bailamvan.edu.vn
    66. vanmautonghop.com
    67. vanmauvip.com
    68. vannghiluanxahoi.com

     

  • List trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh

    List trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh

    Ở bài viết này mình xin chia sẻ list trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh. Các bạn nên đọc để ứng dụng vào bài viết văn của mình nhằm đạt điểm số cao trong giờ làm văn nhé.

    Nếu bạn thấy bài viết hay hãy chia sẻ cho nhiều bạn học sinh biết nữa nhé. Cảm ơn bạn nhiều nhiều.

    1. sangtactre.com
    2. tacgiatre.com
    3. hocgioivan.com
    4. vanmau.edu.vn
    5. vanmauhaynhat.com
    6. vanhoc.edu.vn
    7. yeuvan.com
    8. baigiangvanhoc.com
    9. kenhtailieu.com
    10. blogvanmau.com
    11. trumvanmau.com
    12. webvanmau.com
    13. vanmauvietnam.com
    14. sotaynguvan.com
    15. tailieuphothong.​com
    16. kenhvanmau.edu.vn
    17. yeuvietvan.com
    18. vanhochay.com
    19. sotayvanmau.com
    20. tailieuvietnam.com
    21. thuvienvan.com
    22. baihocmoi.com
    23. caybuttre.com
    24. luyenthivan.com
    25. vanhocnhanhoc.com
    26. khotangvanmau.com
    27. tapchivanhoc.com
    28. khovanmau.com
    29. thivietvan.com
    30. soanvanmau.com
    31. vantonghop.com
    32. tacgiatacpham.com
    33. wikivanmau.com
    34. tailieuhoctap.edu.vn
    35. baivanhay.com
    36. vanmauhocsinh.com
    37. tuyentapvan.com
    38. vietvanhoctro.com
    39. vanmau.top
    40. vanmauonline.com
    41. baisoan.com
    42. bailamvan.com
    43. vanban.edu.vn
    44. nhabaotre.com
    45. baigiangvan.com
    46. thuvienhocsinh.com
    47. baivietvan.com
    48. kienthucvan.com
    49. vanmauphothong.com
    50. hocvanvanhoc.com
    51. kenhgiaoduc.edu.vn
    52. vanmaubathu.com
    53. taplamvan.​edu.​vn
    54. vanmauhoctro.com
    55. vanhocvui.com
    56. vanhaychutot.edu.vn
    57. thegioivanmau.com
    58. yeuvanmau.com
    59. vanmau.org
    60. giaovienvan.com
    61. vanhaychutot.com
    62. khotangvan.com
    63. nhungbaivanhay.vn
    64. vanmau.mobi
    65. bailamvan.edu.vn
    66. vanmautonghop.com
    67. vanmauvip.com
    68. vannghiluanxahoi.com

    The post List trang web văn mẫu tham khảo dành cho học sinh appeared first on Blog học sinh.

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Hà Nam 2021

    [ad_1]

     Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời
    gian giao đề)

    PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

    Đọc đoạn trích:

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến.

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.

     (Sách giáo khoa Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.56)

    Thực hiện các yêu cầu sau:

    Câu 1. Đoạn trích trên thuộc văn bản nào? Tác giả là ai?
    Nêu hoàn cảnh sáng tác của văn bản.

    Câu 2. Trong đoạn trích, những hình ảnh nào thể hiện
    ước nguyện của nhà thơ?

    Câu 3.
    Chỉ ra và nêu hiệu quả của một biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Câu 4. Thông điệp nào trong đoạn
    trích có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao? Trình bày bằng một
    đoạn
    văn khoảng 5-7 dòng.

    PHẦN II. LÀM VĂN (7,0
    điểm)

    Câu 1. (2,0
    điểm
    )

    Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết
    một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa sự cống hiến.

    Câu 2. (5,0
    điểm
    )

    Cảm nhận của em về
    nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện
    người con gái Nam Xương
    (trích Truyền
    kì mạn lục
    ) của Nguyễn Dữ. Từ đó,
    hãy nhận xét về tình cảm của nhà văn dành
    cho nhân vật.

    — HẾT—

     

    Đề thi vào 10 môn Ngữ văn Hà Nam 2021HƯỚNG DẪN
    CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

    A. HƯỚNG DẪN
    CHUNG.

    – Cán bộ chấm thi cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn
    chấm và đáp án – thang điểm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh. Trong
    quá trình chấm, cán bộ chấm thi tránh đếm ý cho điểm, khuyến khích những bài
    viết có cảm xúc và sáng tạo.

    – Bài thi được chấm theo thang điểm 10; làm tròn theo
    quy tắc đến 0,25 điểm.

    B. HƯỚNG DẪN
    CỤ THỂ VÀ BIỂU ĐIỂM

    Phần

    Câu

    Nội dung

    Điểm

    I

    ĐỌC
    HIỂU

    3,0

    1

    Đoạn trích trên thuộc văn bản Mùa xuân
    nho nhỏ

    – Tác giả Thanh Hải.

    Hoàn cảnh sáng tác của văn bản: sáng tác
    năm 1980, không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời.

    0,25

    0,25

    0,25

    2

    – Trong đoạn trích
    những hình ảnh thể hiện ước nguyện của nhà thơ: con chim hót, cành hoa, nốt
    trầm xao xuyến, mùa xuân nho nhỏ.

    (Thí sinh chỉ trả lời
    đúng 01 hình ảnh: không cho điểm; trả lời đúng 02 hình ảnh: cho 0,25 điểm; trả
    lời đúng từ 03 hình ảnh trở lên: cho 0,5 điểm).

    0,5

    3

    Thí sinh chỉ ra một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ. Có thể
    tham khảo:

    + Liệt kê: con
    chim, cành hoa

    + Ẩn dụ: con
    chim, cành hoa

    + Phép điệp (điệp từ
    ta, điệp ngữ ta làm, điệp cấu trúc Ta
    làm
    …)

    Hiệu quả:

    + Làm cho câu thơ
    giàu sức gợi, biểu cảm; giàu nhịp điệu.

    + Thể hiện, nhấn mạnh
    khát vọng được sống có ích, được cống hiến những gì tốt đẹp nhất của cuộc đời
    mình cho cuộc đời chung.

    0,25

     

     

     

     

    0,25

    0,25

    4

    – Về hình thức: Đoạn văn khoảng 5-7 dòng, diễn đạt
    lưu loát, mạch lạc
    . 

    – Về nội dung:

    + Thí sinh rút ra một thông điệp trong đoạn trích có ý nghĩa nhất
    đối với mình. Có thể tham khảo một trong các thông điệp sau:

    ++ Sống cống hiến, hi sinh.

    ++ Sống khiêm nhường, bình dị…

    + Lí giải hợp lí, thuyết phục, không vi
    phạm chuẩn mực đạo đức, pháp luật.

    (Trường hợp học
    sinh lí giải thiếu thuyết phục: cho 0,25 điểm; trường hợp học sinh đưa ra những
    lí giải không thuyết phục, vi phạm chuẩn mực đạo đức, pháp luật: không cho điểm)

    0,25

     

    0,25

     

     

     

    0,5

    II.

    LÀM VĂN

    7,0

    1

    Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, viết một
    đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa
    sự cống hiến.

    2,0

    a. Đảm bảo
    hình thức của đoạn văn nghị luận.

    0,25

    b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa sự cống hiến.

    0,25

    c. Triển khai vấn đề nghị luận:

    Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng phải làm rõ được
    vấn đề cần nghị luận. Dưới đây là một hướng giải quyết:

    * Giải thích:

    – Cống hiến là tự nguyện đem sức lực, tài năng, trí
    tuệ, đóng góp những gì tốt đẹp nhất của bản thân vì lợi ích cao đẹp của tập
    thể, cộng đồng.

    * Bàn luận:

    Khẳng định cống hiến có ý nghĩa, giá trị lớn lao:

    + Là phẩm chất tốt đẹp, là một trong những chuẩn mực đánh giá nhân
    cách, sự trưởng thành của mỗi người.

    + Tạo nên những thành quả, những giá trị có ý nghĩa
    cho cuộc đời.

    + Người biết cống hiến được mọi người yêu mến, cảm
    phục; tâm hồn thanh thản; cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp…

    + Lan tỏa giá trị của sự cống hiến làm cho xã hội
    phát triển, văn minh.

    (Thí sinh lấy dẫn chứng thực tế để
    chứng minh)

    Phê phán những biểu hiện sống ích kỉ, chỉ mưu cầu
    lợi ích cá nhân, quên đi trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng…

    * Bài học nhận thức và hành động: nhận thức đúng đắn ý nghĩa sự cống hiến, có những hành động
    thiết thực thể hiện sự cống hiến.

    1,0

    d. Chính
    tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
    (không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính
    tả, ngữ pháp)
    .

    0,25

    e. Sáng tạo:
    Thể hiện hiểu hiết sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, liên
    hệ sâu sắc
    (thể hiện suy nghĩ sâu sắc
    hoặc biết phản biện hoặc có cách diễn đạt mới mẻ, giàu cảm xúc).

    0,25

    Thang điểm:
    Đối với yêu cầu c

    – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng;
    dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng
    (1,0 điểm).

    – Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ
    xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (0,5-0,75
    điểm).


    Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên
    quan mật thiết với vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không
    phù hợp (0,25 điểm).

     

    2

    Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác
    phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
    (Trích Truyền kì mạn lục) của Nguyễn
    Dữ. Từ đó, hãy nhận xét tình cảm của nhà văn dành cho nhân vật.

    5,0

    a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài khái quát được vấn
    đề cần nghị luận, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài đánh giá được vấn
    đề.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề: Cảm nhận về nhân vật Vũ
    Nương trong tác phẩm Chuyện người con
    gái Nam Xương
    (Trích Truyền kì mạn
    lục
    ) của Nguyễn Dữ. Nhận xét tình cảm của nhà văn dành cho nhân vật.

    0,25

    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:

    Trên cơ sở hiểu đúng vấn đề, biết cách triển khai
    các ý,
    thí sinh có thể trình bày bài viết theo
    nhiều cách khác nhau, đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

     

    * Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Dữ, tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương, nhân vật Vũ Nương.

    * Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương

     – Vẻ đẹp phẩm chất:

    + Là người phụ nữ có
    dung tốt đẹp
    , đảm đang, tháo vát.

    + Người con dâu hiếu nghĩa; người vợ thủy chung, luôn giữ gìn khuôn phép; người mẹ yêu
    thương con hết mực.

    + Người phụ nữ nặng tình nghĩa, trọng danh dự.

    => Những vẻ đẹp của Vũ Nương tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống
    của người phụ nữ Việt Nam.

    – Số phận, cuộc đời bất hạnh:

    + Nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa: chồng đi lính, một mình
    cáng đáng, lo toan mọi việc (nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng mẹ chồng…).

    + Nạn nhân của chế độ nam quyền: bị chồng nghi oan mà không được
    giãi bày, bị đánh đập, bị đuổi đi; danh dự, nhân phẩm bị chà đạp; phải tìm đến
    cái chết bi thảm để minh oan cho mình nhưng khi được giải oan vẫn không thể
    trở về trần gian.

    – Đánh giá: Vũ Nương là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp
    phẩm chất và số phận bi thảm của những người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ
    phong kiến.

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật:         

    + Đặt nhân vật vào nhiều hoàn cảnh, tình huống khác
    nhau để làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất và số phận bất hạnh.

    + Tâm lí, tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét.

    + Kết hợp ngôn ngữ đối thoại và lời tự bạch của nhân
    vật làm nổi bật tính cách nhân vật.

    + Sử dụng yếu tố kì ảo làm cho nhân vật hiện lên vừa
    chân thực đời thường, vừa mang đặc điểm của nhân vật truyện truyền kì.

    * Nhận xét về tình cảm của nhà văn dành cho nhân
    vật:


    Cảm thông, thương xót trước số phận bất hạnh, cuộc đời đau khổ của Vũ Nương.


    Phát hiện, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của Vũ Nương từ hình thức, phẩm chất đến
    những ước mơ, những khát vọng chân chính.

    =>
    Tình
    cảm của
    nhà văn dành cho Vũ Nương cũng chínhtình cảm mà Nguyễn Dữ muốn gửi gắm tới những
    người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là
    biểu hiện tư tưởng nhân đạo sâu
    sắc
    của nhà văn.

    0,5

     

     

     

    1,0

     

     

     

     

     

     

     

    1,0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0,25

     

    0,5

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0,5

    d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm
    bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt (không cho điểm nếu bài
    làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp)

    0,25

    e. Sáng tạo: Có cách diễn
    đạt mới mẻ, thể hiện sâu sắc vấn đề nghị luận (biết vận dụng kiến thức lí
    luận văn học trong quá trình phân tích đánh giá; biết so sánh với các tác
    phẩm văn học khác để làm nổi bật đóng góp riêng của nhà văn Nguyễn Dữ; văn
    viết giàu hình ảnh, cảm xúc).

    0,25

    Thang điểm:

    – Đối với yêu cầu
    cảm nhận vẻ đẹp phẩm chất; số phận,
    cuộc đời của Vũ Nương:

    + Phân tích chi tiết, triển khai các luận điểm rõ
    ràng, mạch lạc (1,75-2,0 điểm) + Phân tích có định hướng nhưng luận điểm chưa
    rõ ràng hoặc luận điểm rõ ràng nhưng phân tích chưa sâu (1,0-1,5 điểm)

    + Phân tích chung chung không có định hướng
    (0,25-0,75 điểm)

    – Đối với yêu cầu
    cảm nhận nghệ thuật xây dựng nhân
    vật
    :

    + Thí sinh trả lời đúng 02 ý có nhấn mạnh yếu tố kì ảo: cho 0,25
    điểm

    + Thí sinh trả lời đúng từ 03 ý có nhấn mạnh yếu tố kì ảo: cho
    0,5 điểm

     



    [ad_2]

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình Định 2021

    Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình Định 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút (không kể
    thời gian phát đề)

    Phần
    I. (4,0 điểm)

    Đọc
    đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

    Không
    có gì tự đến đâu con.

    Quả
    muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

    Hoa
    sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

    Mùa
    bội thu phải một nắng hai sương,

    Không
    có gì tự đến dẫu bình thường.

    Phải
    bằng cả bàn tay và nghị lực

    Như
    con chim suốt ngày chọn hạt,

    Năm
    tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.

    (Trích Không có gì tự đến đâu con – Nguyễn Đăng
    Tấn,

    Tuyển tập thơ Lời ru vầng trăng, NXB Lao động,
    năm 2020, trang 42)

    Câu 1. Xác
    định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.

    Câu 2. Em
    hiểu thế nào về những câu thơ:

    Quả
    muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

    Hoa
    sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

    Mùa
    bội thu phải một nắng hai sương,

    Câu 3. Chỉ
    ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Như con
    chim suốt ngày chọn hạt.

    Câu 4. Viết
    một đoạn văn trình bày cảm nhậ của em về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua
    đoạn thơ (khoảng 10 – 15 dòng).

    Phần II. (6,0 điểm)

    (…) Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng,
    tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục
    vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Đây là máy móc của cháu. Cái thùng đo mưa này,
    ở đâu bác cũng trông thấy, mưa xong đổ nước ra cái cốc li phân mà đo. Cái này
    là máy nhật quang kí, ánh sáng mặt trời xuyên qua cái kính này, đốt các mảnh giấy
    này, cứ theo mức độ, hình dáng vết cháy vết cháy mà định nắng. Đây là máy vin,
    nhìn khoảng cách giữa các răng cưa mà đoán gió. Ban đêm không nhìn mây, cháu
    nhìn gió lay lá, hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng, có thể nói
    được mây, tính được gió. Cái máy nằm dưới sâu kia là máy đo chấn động vỏ quả
    đất. Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về “nhà” bằng máy bộ đàm: bốn giờ,
    mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là
    “ốp”. Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và
    báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang
    nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn,
    ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió
    tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im
    lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát
    chổi muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại
    hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được.

    (…) Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt,
    nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một
    mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta việc, ta với
    công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền
    với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế
    đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở
    bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự
    nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát.
    Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự
    hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô
    hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hằng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp
    còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái
    phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là
    gì?”

    (Trích Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long,

    Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD Việt Nam, 2018, trang 138, 185)

    Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong phần
    trích trên. Từ đó liên hệ hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế cuộc sống để
    thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam.

    —–HẾT—–

    Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình Định 2021

    HƯỚNG DẪN CHẤM – THANG ĐIỂM

     I. YÊU CẦU
    CHUNG

    1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng;
    kĩ năng làm văn tốt; bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trong sáng,
    giàu hình ảnh và sức gợi cảm, ít mắc lỗi về chính tả và ngữ pháp…

    2. Đáp ứng yêu cầu đổi mới cách thức kiểm tra, đánh
    giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, hướng dẫn chấm thi chỉ nêu
    một số nội dung cơ bản, định tính chứ không định lượng. Giám khảo cần hết sức
    linh hoạt khi vận dụng chấm, không chỉ đánh giá kiến thức và kĩ năng mà còn chú
    ý đến thái độ, cảm xúc, tình cảm của người viết. Cần khuyến khích những tìm
    tòi, sáng tạo trong nội dung và hình thức bài làm. Chấp nhận các kiến giải khác
    nhau, kể cà không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí, có sức thuyết phục.

    3. Tổng điểm của toàn bài là 10,0 điểm, cho lẻ đến
    0,25 điểm. Hướng dẫn chấm cho từng câu, từng ý trên cơ sở đó, giám khảo có thể
    thống nhất định ra các thang điểm cụ thể khác.

    II. YÊU CẦU CỤ THỂ

     

    Câu

    Yêu cầu cần đạt

    Điểm

    PHẦN ĐỌC HIỂU

    4,0

    a

    Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trả lời đúng đáp án: 0,5 điểm

    – HS trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm

    0,5

    b

    Những câu thơ trên có nghĩa là: sự thành công trong
    cuộc đời mỗi người không có gì là dễ dàng cả, cuộc đời luôn tồn tại những khó
    khăn, thử thách, trở ngại, muốn được thành công thì phải vượt qua nó.

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trả lời như đáp án: 0,5 điểm

    – HS trả lời như 1/2 đáp án:
    0,25 điểm

    – HS trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm

    0,5

    c

    Câu thơ: Như con chim suốt ngày chọn hạt

    – Biện pháp tu từ: 
    so sánh

    – Hiệu quả:

    + Tạo cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm

    + So sánh hình ảnh con người với những con chim chăm
    chỉ làm việc cả ngày để nhấn mạnh con người muốn gặt hái thành công thì phải
    nghị lực, sự cố gắng, kiên trì.

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trả lời như đáp án hoặc có cách diễn đạt tương
    tự: 1,0 điểm

    – HS trả lời được nhưng còn thiếu 1 ý so với đáp án:
    0,75 điểm

    – HS trả lời được 1/2 đáp án:
    0,5 điểm

    – HS trả lời sơ sài nhưng có ý và thiếu ý: 0,25 điểm

    1,0

    d

    Thí sinh cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

    Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 15 dòng) trình bày
    cảm nhận về nỗi lòng của cha mẹ dành cho con cái qua đoạn thơ

    2,0

     

    * Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

    Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo kiểu diễn
    dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp, móc xích, song hành

    0,25

     

    * Xác định vấn đề cần nghị luận: Thể hiện
    được cảm nhận chân thành, sấu sắc về nỗi lòng của cha mẹ dành cho con.

    0,25

     

    * Triển khai nghị luận

    Thí sinh có thể lựa chon thao tác lập luận phù hợp
    để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách. Có thể theo hướng sau:

    – Những lời khuyên nhủ, chia sẻ nhẹ nhàng, tình cảm
    của cha mẹ danh cho con

    – Thể nhiện sự quan tâm, yêu thương sâu sắc của cha
    mẹ, sự lo lắng cho con trước những thử thách của cuộc đời.

    – Niềm tin tưởng vào người con sẽ kiên trì đi đến
    mục tiêu cuộc đời.

    Hướng dẫn chấm:

    – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục; lí lẽ xác đáng:
    1,0 điểm

    – Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục; lí lẽ
    xác đáng: 0,75 điểm

    – Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: 0,5
    điểm

    Lưu ý:
    HS có thể bày tỏ cảm nhận và cách lập luận khác nhưng phải phù hợp.

    1,0

     

    * Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả,
    ngữ pháp tiếng Việt

    Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính
    tả, ngữ pháp.

    0,25

     

    * Sáng tạo: Thể hiện cảm nhấn sâu sắc về vấn
    đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

    Hướng dẫn chấm: huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân
    khi bàn luận; có cái nhìn sâu sắc, chân thành về vấn đề; có sáng tạo trong
    diễn đạt, lập luận, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh, đoạn văn giàu
    sức thuyết phục.

    0,25

    PHẦN LÀM VĂN

    6,0

    Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong
    đoạn trích. Từ đó liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế cuộc sống
    để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam

     

    a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài
    nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn
    đề.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảm
    nhận về nhân vật anh thanh niên qua đoạn trích; từ đó liên hệ với hình ảnh
    của thế hệ trẻ trong thực tế cuộc sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt
    Nam.

    0,5

    c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm

    Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng
    cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn
    chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:

     

    * Giới thiểu những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm,
    phần trích

    – Nguyễn Thành Long (1925 – 1991), quê ở Duy Xuyên,
    Quảng Nam, viết văn từ thời kì kháng chiến chống Pháp, là cây bút chuyên viết
    truyện ngắn và kí

    Lặng lẽ Sa Pa sáng tác năm 1970, trong
    chuyến đi thực tế của tác giả ở Lào Cai, in trong tập Giữa trong xanh
    (1972).

    – Giới thiệu phần trích: tác giả xây dựng nhân vật
    anh thanh niên với những vẻ đẹp tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong công
    cuôc xây dựng đất nước.

    0,5

    * Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong phần
    trích:

    – Có ý thức trách nhiệm và tình yêu với công việc:

    + Làm công việc âm thầm, lặng lẽ trong hoàn cảnh
    thời tiết khắc nghiệt nhưng anh luôn tự giác hoàn thành nhiệm vụ với tinh
    thần trách nhiệm cao;

    + Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của công việc: có ích
    cho cuộc đời, cho cuộc sống chung của đất nước, lấy công việc làm niềm vui.

    – Có lí tưởng sống cao đẹp:

    + Phải vì mọi người, vì quê hương, đất nước;

    + Hạnh phúc vì đã có đóng góp, cống hiến sức mình
    cho sự nghiệp chung.

    Hướng dẫn chấm:

    – HS cảm nhận đầy đủ, sâu sắc: 2,0 – 2,5 điểm

    – HS cảm nhận đầy đủ nhưng chưa sâu sắc: 1,0 – 1,75
    điểm

    – HS cảm nhận chung chung, chưa rõ các biểu hiện:
    0,25 – 0,75 điểm

    Lưu ý: Không cho điểm tối đa với những bài làm cảm nhận toàn bộ tác phẩm

    2,5

    * Đánh giá:

    – Vẻ đẹp bình dị mà cao cả, sống có lí tưởng, biết
    hi sinh cho nhân dân, đất nước… anh thanh niên chính là hình ảnh tiêu biểu
    cho thế hệ trẻ Việt Nam những năm 70 của thế kỉ XX – thời kì xây dựng CNXH và
    kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    – Đánh giá về nghệ thuật: ngôn ngữ tự nhiên, sinh
    động, có kết hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận…

    – Liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế
    đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam: thế hệ trẻ với những phẩm
    chất ưu tú, nhiệt tình cống hiến, dấn thân, xây dựng đất nước, bảo vệ quê
    hương…

    Hướng dẫn chấm:

    – HS trình bày được 3 ý: 1,0 điểm

    – HS trình bày được 2 ý: 0,75 điểm

    – HS trình bày được 1 ý: 0,5 điểm

    1,0

    d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

    Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính
    tả, ngữ pháp.

    0,5

    e. Sáng tạo:
    Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

    Hướng dẫn chấm: HS biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình
    phân tích, đánh giá; biết so sánh với các tác phẩm khác để làm nổi bật nét
    đặc sắc của đoạn trích; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống;
    văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc.

    – Đáp ứng 2 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm

    – Đáp ứng 1 yêu cầu: 0,25

    – Lưu ý: Chi
    cho điểm tối đa khi thí sinh đáp ưng đủ các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng.

    0,5



    [ad_2]

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Quảng Bình 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

    Đọc và bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

    NGƯỜI ĂN XIN

    Một lưới ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt
    ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

    Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu,
    không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi biết chẳng biết làm
    thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:

    – Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả

    Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở như cười:

    – Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão
    rồi.

    Khi ấy tôi chợt hiểu ra cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận
    được một cái gì đó của ôong.

    (Theo Tuốc-ghê-nhép, trích Ngữ Văn 9, tập 1, tr.22,
    NXB Giáo dục, 2010)

    Câu 1 (0,5
    điểm)
    Xác định phương thức biểu đạt
    chính của văn bản.

    Câu 2 (0,5
    điểm)
    Hãy chỉ ra 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.

    Câu 3 (1,0
    điểm)
    Theo em, tại sao không nhận được một xu nào từ nhân vật “tôi” mà ông
    lão vẫn cảm ơn và nói: “Như vậy là cháu đã cho lão rồi”?

    Câu 4 (1,0
    điểm)
    Hãy nhận xét ngắn gọn về nhân
    vật “tôi” trong câu chuyện trên.

    II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

    Câu 1 (2,0 điểm)

    Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn
    (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử với những người bất hạnh.

    Câu 2 (5,0 điểm)

    Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người lính trong đoạn
    thơ sau:

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

    Sốt run người vầng trán tướt mồ hôi.

    Áo anh rách vai

    Quần tôi có vài mảnh vá

    Miệng cười buốt giá

    Chân không giày

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

    Đêm nay rừng hoang sương muối

    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

    Đầu súng trăng treo…

    (Trích Đồng chí, Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập 1, tr.128,
    NXB Giáo dục, 2010)

    —–HẾT—–

    Đáp án thi vào 10 Ngữ văn Quảng Bình 2021


    HƯỚNG DẪN CHẤM

    I. HƯỚNG DẪN
    CHUNG

    – Trên cơ sở các mức điểm đã
    định, giám khảo căn cứ vào nội dung trình bày và kĩ năng diễn đạt của học sinh
    để cho điểm tối đa hoặc thấp hơn.

    – Khuyến khích những bài thể
    hiện sự sáng tạo mà hợp lý trong cảm nhận và lập luận.

    – Điểm toàn bài tính đến 0,25.

    – Phần trong ngoặc […] chỉ mang tính gợi ý.

    II. HƯỚNG
    DẪN CỤ THỂ

    Phần

    Câu

    Nội dung

    Điểm

    I

    1

    Phương thức biểu đạt
    chính là tự sự.

    0,5

    2

    Từ láy: giàn giụa,
    tả tơi, run run, run rẩy, chăm chăm

    0,5

    3

    Bởi vì: Ông lão đã cảm
    nhận được những tình cảm chân thành và sự tôn trọng mà nhân vật “tôi” dành
    cho mình.

    (HS có thể diễn đạt
    khác)

    1.0

    4

    HS có thể có những
    nhận xét khác nhau về nhân vật “tôi” (Là người giàu tình cảm, người tốt bụng,
    người sâu sắc: …).

    1.0

    II

    1

    Từ nội dung phần
    Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ về
    cách ứng xử với những người bất hạnh.

    2.0

    1.1. Đảm bảo yêu
    cầu về hình thức đoạn văn.

    0.25

    1.2. Xác định đúng vấn đề cán nghị luận: cách ứng xử với những người bất hạnh

    0.25

     

    1.3. Triển khai vấn đề cần nghị luận: HS có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách (diễn dịch, quy nạp,
    song hành…); có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề
    nghị luận: cách ứng xử với những người bất hạnh

    [Gợi ý:

     – Người bất
    hạnh là những người chịu nhiều thiệt thòi, thiếu may mắn và không có được hạnh phúc trong cuộc sống.

     – Người bất hạnh thường tự ti, mặc cảm, dễ
    bị tổn thương. Vì vậy, cần ứng xử chân thành, quan tâm và tế nhị trong giao
    tiếp.
    ]

    1.0

     

    1.4. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuân chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

    0.25

     

    1.5. Sáng tạo: Thể
    hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn
    đề nghị luận có cách diễn
    đạt mới mẻ

    0.25

    2

    Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người
    lính trong đoạn thơ

    5,0

    2.1 Đảm bảo cấu trúc
    bài nghị luận:
    Mở bài nêu được vấn đề,
    Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài kết thúc được vấn đề

    0,25

    2.2 Xác định đúng vấn đề
    cần nghị luận:
    Vẻ đẹp của hình ảnh người lính được thể hiện qua
    đoạn thơ.

    0,25

    2.3. Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cân vận dụng tốt
    các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dân chúng; đảm bảo được
    các yêu cầu sau:

    – Có những hiểu biết
    cơ bản về tác giả, tác phẩm.

    – Phân tích đoạn thơ
    để làm nổi bật vẻ đẹp của hình ảnh người |lính:

    + Vẻ đẹp của tỉnh đồng
    chí, đồng đội: sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn về vật chất nhưng
    luôn yêu thương, sẻ chia, đồng cảm, sát cánh bên nhau, sẵn sàng chiến đấu [HS
    phân tích dẫn chứng
    ]

     + Vẻ đẹp của tinh thần lạc quan và tâm hồn
    lãng mạn: trong mọi tình huống đều sống vui vẻ, rộng mở tâm hồn để cảm nhận
    chất thơ của cuộc sống, của thiên nhiên… [HS phân tích dẫn chứng.]

    – Nhận xét được một
    vài nét đặc sắc về nghệ thuật: ngôn ngữ chân thực, giản dị, giàu sức biểu
    cảm, hình ảnh vừa hiện thực, vừa lãng mạn; …

    – Đánh giá được ý
    nghĩa của hình ảnh người lính: người lính mang vẻ đẹp bình dị mà cao cả của
    anh bộ đội cụ Hồ trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vừa mang dấu
    ấn thời đại vừa thể hiện sự sáng tạo của Chính Hữu.

     

     

     

     

    0.5

     

     

    1.25

     

     

     

    1.25

     

     

    0.5

     

     

    0.5

     

    2.4. Chinh tả, ngữ pháp: Đảm
    bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng

    0.25

    2.5. Sáng tạo: Thể hiện suy
    nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

    0.25



    [ad_2]

  • Dàn ý cảm nhận bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

    [ad_1]

    I. Mở bài


    Thanh Hải là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở
    miềm Nam
    từ những ngày đầu. Thơ Thanh Hải có vẻ đẹp bình dị, trong sáng, ngôn ngữ thơ
    giàu hình ảnh, cảm xúc chân thành, đằm thắm.

              – Ra đời vào tháng 11/1980, “Mùa xuân
    nho nhỏ” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác đó. Bài thơ đã ghi lại
    những cảm xúc và nghĩ suy của ông trước mùa xuân thiên nhiên, trước cuộc đời và
    lời tâm niệm về khát vọng sống cống hiến của nhà thơ.

    Cảm nhận Mùa xuân nho nhỏ

    II. Thân bài

       1. Cảm xúc của
    nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên, đất trời.

          – Bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong
    “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải được vẽ bằng những hình ảnh, màu sắc, âm thanh
    hài hòa, sống động, tràn đầy sức sống:

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc

    Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời.

              + Ngay hai
    câu mở đầu ta đã bắt gặp một cách viết khác lạ, động từ “mọc” được đảo lên đầu
    câu thơ nhằm khắc sâu ấn tượng về sức sống trỗi dậy và vươn lên của mùa xuân.

    +
    Bức tranh mùa xuân được xây dựng bằng một hệ thống hình ảnh: dòng sông, bông
    hoa, chim chiền chiện, trời. Đây là những hình ảnh tiêu biểu và rất gợi cảm của
    mùa xuân. Bằng hệ thống hình ảnh này tác giả vẽ ra cả một không gian cao rộng của
    mùa xuân. Từ đó ta thấy rằng hình ảnh được
    lựa chọn gợi lên một mùa xuân tươi đẹp.

    +
    Để tô thêm về ấn tượng về mùa xuân tác giả sử dụng những gam màu tươi tắn. Đó
    là dòng sông xanh, bông hoa tím. Những gam màu hài hòa, tươi sáng, tôn tạo cho
    nhau. Nền xanh làm cho màu tím càng nổi bật.

               +
    Bức tranh không chỉ có họa mà còn có nhạc. Tiếng chim chiền chiện là tín hiệu gợi
    lên một buổi sớm mùa xuân trong trẻo và mát lành. Cũng âm thanh ấy đã vẽ ra được
    không gian bầu trời cao rộng, trong trẻo và ấm áp. Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trong trẻo, ngân nga, rộn
    ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nên náo nức lạ
    thường.

    ->
    Dòng sông êm trôi, bông hoa lững lờ, tiếng chim rộn rã… bức tranh mùa xuân xứ
    Huế bao giờ cũng đẹp, nhẹ nhàng, và mơ mộng như thế!


    Trước vẻ đẹp của mùa xuân, nhà thơ lặng ngắm, lặng nghe bằng cả trái tim xao động,
    bằng trí tưởng tượng, liên tưởng độc đáo:

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng.

    +
    Cụm từ “giọt long lanh” gợi lên những liên tưởng phong phú và đầy thi vị. Nó có
    thể là giọt sương lấp lánh qua kẽ lá trong buổi sớm mùa xuân tươi đẹp, có thể
    là giọt nắng rọi sáng bên thềm, có thể giọt mưa xuân đang rơi… Theo mạch cảm
    xúc của nhà thơ thì có lẽ đây là giọt âm thanh của tiếng chim ngân vang, đọng lại
    thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn
    đang rạo rực tình xuân.

    +
    Cử chỉ “tay tôi hứng” thể hiện sự nâng niu, trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp
    của thiên nhiên, đất trời lúc với xuân với cảm xúc say sưa, xốn xang, rạo rực.
    Nhà thơ như muốn ôm trọn vào lòng tất cả sức sống của mùa xuân, của cuộc đời.

    => Khổ thơ mở đầu đã mở ra một bức
    tranh xứ Huế thật đẹp: có hình ảnh, có màu sắc, âm thanh được họa lên từ những
    vần thơ có nhạc…

     

    2. Cảm xúc của nhà thơ về mùa xuân đất nước

    Mùa
    xuân người cầm súng

    Lộc
    giắt đầy trên lưng

    Mùa
    xuân người ra đồng

    Lộc
    trải dài nương mạ


    Không phải ngẫu nhiên trong khổ thơ lại xuất hiện hình ảnh “người cầm súng” và
    “người ra đồng”. Họ là những con người cụ thể, những con người làm nên lịch sử
    với hai nhiệm vụ cơ bản của đất nước ta trong suốt quá trình phát triển lâu
    dài: chiến đấu và sản xuất, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

              – Mùa xuân không những chắp thêm đôi
    cánh sức mạnh cho con người mà còn chuẩn bị cho con người những “lộc” non tươi
    mới, căng tràn nhựa sống:

    +
    “Lộc” là nhành non chồi biếc của cỏ cây trong mùa xuân. Đối với người chiến sĩ,
    “lộc” là cành lá ngụy trang che mắt quân thù trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
    đầy cam go và ác liệt. Đối với người nông dân “một nắng hai sương”, “lộc” là những
    mầm xuân tươi non trải dài trên ruộng đồng bát ngát, báo hiệu một mùa bội thu.

    +
    “Lộc” không chỉ là hình ảnh tả thực mà con mang ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng. “lộc”
    là sức sống, là tuổi trẻ, sức thanh xuân tươi mới đầy mơ ước, lí tưởng. Và “lộc”
    chính là thành quả hôm nay và niềm tin, hi vọng ngày mai.


    Từ những suy nghĩ rất thực về đất nước, nhà thơ khái quát:

    Tất cả như hồi hả

    Tất cả như xôn xao

    Điệp
    ngữ “tất cả” cùng các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí khẩn
    trương, náo nức của đất nước trong những năm tháng gian lao, hào hùng.  Cách ngắt nhịp 2/1/2 làm cho câu thơ vang lên
    một nhịp điệu tươi vui, mạnh mẽ. Đó là hành khúc mùa xuân của thời đại Hồ Chí
    Minh.


    Xúc cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước khi bước vào mùa xuân, nhà thơ
    Thanh Hải đã có cái nhìn sâu sắc và tự hào về lịch sử bốn nghìn năm dân tộc:

    “Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước”

    +
    Trong bốn nghìn năm đất nước trải qua biết bao thăng trầm. Phải đối đầu với rất
    nhiều kẻ thù hung mạnh. Đó là các triều đại phong kiến Trung Quốc, thực dân
    Pháp, đế quốc Mỹ. Nhưng chúng ta đã vượt qua tất cả bằng xương máu và tính mạng
    của ông cha để đất nước được trường tồn. Chính điều đó đã tạo nên những truyền
    thống thống tốt đẹp cho dân tộc: anh hùng, đoàn kết, nhân ái…

    +
    Đặc biệt, hình ảnh so sánh “đất nước như vì sao” được sử dụng vô cùng đặc sắc.
    Sao là nguồn sáng bất diệt của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm,
    là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế, là tác giả đã ngợi
    ca đất nước trường tồn, tráng lệ, đất nước đang hướng về một tương lai tươi
    sáng.

    +
    Điệp ngữ “đất nước” được nhắc lại hai lần thể hiện sâu sắc ý thơ: trải qua những
    gian truân, vất vả, đất nước vẫn toả sáng đi lên không gì có thể ngăn cản được.

    => Ta cảm nhận được niềm tin tưởng
    của tác giả vào tương lai rạng ngời của dân tộc Việt Nam. Âm thanh mùa xuân đất nước
    vang lên từ chính cuộc sống vất vả, gian lao mà tươi thắm đến vô ngần.

     

    3. Lời ước nguyện chân thành, tha thiết của nhà thơ.

              – Từ những cảm xúc về mùa xuân, tác giả
    đã chuyển mạch thơ một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của
    mình về lẽ sống, về ý nghĩa giá trị của cuộc đời mỗi con người:

    “Ta làm con chim hót

    Ta làm một cành hoa

    Ta nhập vào hoà ca

    Một nốt trầm xao xuyến”.

    +
    Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha.

    +
    Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống để bày tỏ
    ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm. Còn gì đẹp hơn khi làm một
    cành hoa đem sắc hương tô điểm cho mùa xuân đất mẹ! Còn gì vui hơn khi được làm
    con chim nhỏ cất tiếng hót rộn rã làm vui cho đời!

    + Các hình ảnh bông hoa, tiếng
    chim đã xuất hiện trong cảm xúc của thi nhân về mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, giờ lại được sử dụng để thể hiện lẽ sống của mình.
    Một
    ý nghĩa mới đã mở ra,
    đó mong muốn được sống ích,
    sống
    làm đẹp cho đời lẽ thường tình.

    +
    Hình ảnh “nốt trầm” và lặp lại số từ “một” tác giả cho thấy ước muốn tha thiết,
    chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt trầm”
    nhưng phải là “một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung. Nghĩa là
    nhà thơ muốn đem phần nhỏ bé của riêng mình để góp vào công cuộc đổi mới và đi
    lên của đất nước.

    ->
    Đọc đoạn thơ, ta xúc động trước ước nguyện của nhà thơ xứ Huế và cũng là ước
    nguyện của nhiều người.


    Lẽ sống của Thanh Hải còn được thể hiện trong những vần thơ sâu lắng:

    “Một mùa xuân nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.”

    +
    “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một
    khát vọng sống cao đẹp. Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì
    tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất
    nước.

    +
    Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường,
    lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng
    phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

    + Lời ước nguyện thật thuỷ chung,
    son
    sắt. Sử dụng điệp ngữ “dù là” nhắc lại hai lần như tiếng lòng tự dặn mình đinh ninh: dẫu
    giai đoạn nào của cuộc đời, tuổi hai mươi tràn đầy sức trẻ, hay khi đã già,
    bệnh
    tật thì vẫn phải sống ích cho
    đời, sống làm đẹp
    cho đất nước.

    ->
    Không khoe khoang, cao điệu mà chỉ lặng lẽ âm thầm dâng hiến.Ý thơ thể hiện một
    ước nguyện, một khát vọng, một mục đích sống.

     

    5. Khái quát nghệ
    thuật

    Thể
    thơ năm chữ nhẹ nhàng, thiết tha thể hiện được cảm xúc sâu lắng, mang âm hưởng
    gần gũi với dân ca.

    Kết
    hợp hài hòa giữa những hình ảnh thơ tự nhiên với những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu
    trưng, khái quát.

    Ngôn
    ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh, cảm xúc với các phép ẩn dụ, điệp ngữ,
    so sánh.

     

    III. Kết bài

    Bài
    thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên
    nhiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước, cho cuộc đời.
    Tuy tác phẩm được viết không lâu trước khi nhà thơ qua đi, nhưng bài thơ vẫn để lại trong
    lòng bao thế hệ bạn đọc những cảm xúc sâu lắng, khó
    phai
    mờ.



    [ad_2]

  • Đề Ngữ văn thi vào 10 tỉnh Hà Tĩnh năm học 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    Câu 1 (2,0 điểm)

    Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

    (Tế Hanh, Quê hương, Ngữ văn 8, tập hai, tr.17.
    NXB GDVN, 2015)

    a) Trong
    đoạn thơ, những từ nào thuộc trường từ vựng về biển?

    b) Nêu ngắn
    gọn nội dung của đoạn thơ

    c) Chỉ ra
    một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng
    nhớ/ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
    và phân tích hiệu quả nghệ thuật
    của nó.

    Đáp án Ngữ văn thi vào 10 Hà Tĩnh 2021

    Đáp án đề thi vào 10 môn Ngữ văn Hà Tĩnh 2021

    Câu 2 (3,0 điểm)

    Viết bài văn (khoảng 300 chữ) thể hiện tình cảm của em
    đối với quê hương, đất nước.

    Câu 3 (5,0 điểm)

    Cảm nhận vẻ đẹp của đoạn thơ sau:

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc

    Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng

     

    Mùa xuân người cầm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao…

    (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ,

    Ngữ văn 9, tập hai, tr.55,56, NXB GDVN, 2017)



    [ad_2]

  • Đề và đáp án Ngữ văn thi vào 10 Vĩnh Phúc 2021

    Đề và đáp án Ngữ văn thi vào 10 Vĩnh Phúc 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    I. PHẦN TRẮC
    NGHIỆM (2,0 điểm)

    Đọc đoạn văn
    sau và viết ra tờ giấy thi chữ cái in hoa trước đáp án đúng:

    Chợt ông lão lặng hẳn đi, chân tay nhủn ra, tưởng
    chừng như không cất lên được… Có tiếng nói léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ…
    Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế? Trống ngực ông lão đập thình
    thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…

    (Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2016)

    Đáp án đề thi ngữ văn vào 10 Vĩnh Phúc 2021

    Câu 1: Đoạn
    văn trên được trích trong tác phẩm nào?

    A. Chuyện người con gái Nam Xương          B. Chiếc lược ngà

    C. Lặng lẽ Sa Pa                                            D.
    Làng

    Câu 2. Phương thức biểu
    đạt chính của đoạn văn trên là gì?

    A. Tự sự                                                        B.
    Nghị luận

    C. Biểu cảm                                                   D.
    Thuyết minh

    Câu 3. Đoạn văn trên có mấy
    từ láy ?

    Câu 4. Xét theo mục đích nói, câu ‘‘Ông lão nín
    thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…” thuộc kiểu câu gì?

    A. Câu nghi vấn                                             B.
    Câu trần thuật

    C. Câu cảm thán                                            D.
    Câu cầu khiến

     

    II. PHẦN
    TỰ LUẬN (8,0 điểm)

    Câu 5 (3,0
    điểm).

    Em hãy viết một đoạn văn
    trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống. Trong
    đoạn văn có sử dụng phép liên kết nối. Gạch chân dưới từ ngữ thực hiện phép
    liên kết ấy.

    Câu 6 (5,0 điểm). 

    Cảm nhận của em về đoạn thơ
    sau:

    Bỗng nhận ra hương
    ổi

    Phả vào trong
    gió se

    Sương chùng
    chình qua ngõ

    Hình như thu
    đã về

     

    Sông được lúc dềnh dàng

    Chim bắt đầu vội vã,

    Có đám mây mùa hạ

    Vắt nửa mình sang thu”.

    (Trích
    Sang thu – Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập
    2, NXB Giáo dục Việt Nam 2016)

    —–HẾT—–

    HƯỚNG DẪN
    CHẤM

     

    I: PHẦN TRẮC
    NGHIỆM (2,0 điểm)

    Câu

    1

    2

    3

    4

    Đáp án

    D

    A

    C

    B

    Điểm

    0,5

    0,5

    0,5

    0,5

     

    II. PHẦN TỰ LUẬN (8,0 điểm)

    Câu 5 (3 điểm)

    Ý

    Nội dung

    Điểm

     

    Em hãy viết một đoạn
    văn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống.
    Trong đoạn văn có sử dụng phép liên kết nối. Gạch chân dưới từ ngữ thực hiện
    phép liên kết ấy

    3,0

    1

    Yêu cầu về hình thức

     

     

    – Về hình thức viết đúng hình thức đoạn văn.

    – Về kiến thức
    Tiếng Việt : trong đoạn văn có sử dụng
    có sử dụng phép liên kết nối, gạch chân dưới từ ngữ thực hiện phép
    liên kết ấy

    0,5

    0.5

    2

    Đảm bảo các ý cơ bản về nội
    dung

    2,0

     

    – Tinh thần trách nhiệm là ý thức làm tròn bổn phận, nghĩa vụ đối vởi bản
    thân, gia đình, và xã hội; có trách nhiệm với suy nghĩ, hành động, thái độ…
    của bản thân mình

    – Ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm :

    + Là một chuẩn mực để đánh giá nhân cách, sự trưởng thành của một người

    + Giúp chúng ta phát huy được phẩm chất, năng lực của bản thân, hoàn
    thiện chính mình; hoàn thành tốt công việc và thành công trong cuộc sống…

    + Có được lòng tin, sự quý mến, kính trọng của mọi người…

    + Mỗi cá nhân có tinh thần trách nhiệm sẽ góp phần xây dựng cộng đồng, xã
    hội phát triển văn minh, toàn diện…

    – Phê phán lối sống ích kỉ, vô trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã
    hội

    – Bài học: thí sinh rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp, suy
    nghĩ tích cực

    0,5

     

     

     

    0,25

    0.25

     

    0,25

    0,25

     

    0,25

    0,25

     

    Câu 6 (5,0 điểm). 

    Ý

    Nội dung

    Điểm

    1

    Giới thiệu chung: Khái quát về tác giả Hữu Thỉnh,
    bài thơ Sang thu, đoạn trích thơ

    0,5

    2

    Cảm nhận

    3,0

    Khổ thơ thứ
    nhất

    1,5

    a. Những tín hiệu báo mùa thu về:

    + Hương ổi:  làn hương thơm quen thuộc ở làng
    quê Bắc bộ; động từ phả là tỏa vào,
    trộn lẫn gợi hương ổi lan tỏa khắp không gian với một mùi thơm ngọt mát, dịu
    nhẹ…

    +Gió se: gió heo may mua thu se se lạnh

    + Sương được nhân hóa qua từ láy gợi hình “chùng chình” gợi màn sương thu mỏng, mềm mại, giăng mắc khắp ngõ
    xóm làng quê. Sương như chứa đầy
    tâm trạng, dùng dằng, cố ý chậm lại như chờ đợi, lưu luyến điều gì…

    b. Cảm xúc
    của nhà thơ trước những tín hiệu báo mùa thu về:

    + Bỗng:
    Cảm giác bất ngờ, ngỡ ngàng,
    xúc động
    trước tín hiệu chuyển mùa của thiên nhiên

    + Hình như: cảm giác mơ hồ, mong manh

    à Bằng sự cảm nhận của tất cả các giác quan, sử dụng
    những từ ngữ gợi hình gợi cảm… nhà thơ đã diễn tả vẻ đẹp đặc trưng của thiên
    nhiên cuối hạ đầu thu qua những nét vẽ thanh sơ, mang đến một bức tranh đậm
    chất thu của vùng đồng bằng Bắc bộ. Đồng thời cho thấy sự tinh tế và tình yêu
    thiên nhiên tha thiết của tác giả

    0,75

     

     

     

     

     

     

     

    0,5

     

     

     

    0,25

    Khổ thơ thứ
    hai

    1,5

    a. Bức
    tranh mùa thu được cảm nhận trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn, diễn tả sự thay
    đổi của đất trời từ hạ sang thu, nhẹ nhàng mà rõ rệt

    + Sông được
    nhân hóa qua từ láy dành dàng gợi
    tả dòng sông chảy chậm êm dịu, chứa đầy tâm trạng…

    + Trái ngược với vẻ khoan thai của dòng sông, những
    cánh chim bắt đầu vội vã di trú về
    phương Nam tránh rét…

    + Hình ảnh đám mây được nhân hóa vắt nửa mình sang thu gợi liên tưởng
    thú vị; chữ vắt thật tinh tế gợi
    cảm khiến những đám mây hiện lên mềm mại, nhẹ nhàng như những chiếc khăn voan
    nửa nghiêng về mùa hạ nửa ngả về mùa thu…

    b. Cách cảm
    nhận của nhà thơ về thiên nhiên ở khoảnh khắc cuối hạ đầu thu: độc đáo tinh
    tế với trí tưởng tượng bay bổng…

    à Bức tranh thiên nhiên trong khúc giao mùa hiện lên
    tinh tế sống động qua những câu thơ giàu chất tạo hình… Qua đó ta thấy một
    hồn thơ Hữu Thỉnh ngây ngất, say sưa, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết

    0,75

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0, 5

     

    0,25

    3

    Đánh giá,
    mở rộng

    1.0

    + Nghệ
    thuật:
    thể thơ năm chữ, ngôn ngữ
    giản dị, sáng tạo, gợi hình, gợi cảm, hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các phép tu
    từ tài hoa, điêu luyện (nhân hóa, ẩn dụ, tương phản…)

    + Nội
    dung:
    đoạn thơ là một khúc giao mùa
    nhẹ nhàng, thơ mộng, bâng khuâng góp phần làm cho Sang thu trở thành một thi phẩm đẹp, nối tiếp hành trình thơ thu
    dân tộc, đem đến một tiếng thơ đằm thắm mà chan chứa tình yêu quê hương đất
    nước

     

    Đảm
    bảo quy tắc chính tả, dùng từ đặt câu; bài viết sáng tạo giàu chất văn

    0,5



    [ad_2]

  • Dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

    Dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

    [ad_1]

    Dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác (Viễn Phương)

    I. Mở bài

    Cách 1: Gián tiếp (Giới thiệu chủ đề/ đề tài – Tác giả
    và tác phẩm – Nội dung cần nghị luận (nội dung chính của văn bản)

    – Bác
    Hồ, tên gọi thân yêu vang âm trong trái tim bao người, đã trở thành cảm hứng
    cho biết bao thi sĩ. Đó là “Đêm nay Bác
    không ngủ”
    của Minh Huệ, “Người đi
    tìm hình của nước”
    của Chế Lan Viên….

    – Ra
    đời vào tháng 4/1976, “Viếng lăng Bác”
    của Viễn Phương đã làm phong phú thêm đề tài thơ về Bác.

    – Bài
    thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn
    nỗi xót đau khi tác giả ra viếng lăng Bác.

     

    Dàn ý phân tích Viếng lăng Bác


    Cách 2: Trực tiếp (Giới thiệu tác giả: vai trò, vị trí
    trong nền văn học VN, phong cách sáng tác – Giới thiệu tác phẩm: năm sáng tác, hoàn
    cảnh sáng tác… – Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: nội dung chính của văn bản)

    – Viễn Phương tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê
    tỉnh An Giang. Ông là cây bút xuất hiện sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải
    phóng ở miền Nam. Thơ ông giàu tình cảm, mơ mộng ngay trong những hoàn cảnh
    chiến đấu ác liệt.

    – Ra đời vào tháng 4-1976 khi tác giả ra thăm miền
    Bắc, vào thăm lăng Bác, “Viếng lăng Bác”
    là tác phẩm tiêu biểu của Viễn Phương. Bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng,
    thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả ra viếng
    lăng Bác.

    II. Phân tích

    1.
    Cảm xúc của nhà thơ khi đến lăng Bác (khổ 1)


    Câu thơ mở đầu như một lời kể:

    “Con
    ở miền Nam ra thăm lăng Bác”


    Viễn Phương xưng “con” và gọi “Bác”. Cách xưng hô này thật gần gũi, ấm áp tình
    thân thương mà vẫn rất mực thành kính, thiêng liêng. Đồng thời, cũng diễn tả
    tâm trạng xúc động của người con ra thăm cha sau bao nhiêu năm xa cách.


    Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”. “Viếng” là đến chia buồn với
    thân nhân người đã mất. Còn “thăm” là gặp gỡ, trò chuyện với người đang sống.
    Cách nói giảm, nói tránh như vậy nhằm giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát. Khẳng
    định Bác vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, trong lòng dân tộc.


    Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà còn ở hình ảnh cây tre vô
    cùng thân thuộc:

    “Đã thấy
    trong sương hàng tre bát ngát 

    Ôi! Hàng tre
    xanh xanh Việt Nam 

    Bão táp mưa
    sa, đứng thẳng hàng.” 

    + Ấn
    tượng đầu tiên với nhà thơ khi đến bên lăng Bác là hình ảnh “hàng tre”, hình
    ảnh tượng trưng cho làng quê, cho con người Việt Nam: giản dị, thân thuộc nhưng
    kiên cường, bất khuất…

    +
    Tác giả bật lên một tiếng “Ôi!” vừa đầy thương cảm vừa mang vẻ tự hào. Thương
    cảm vì dân tộc ta phải trải qua bao nhiêu “bão táp mưa sa”- bốn nghìn băn lịch
    sử chống ngoại xâm với bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả máu đã đổ xuống. Tự hào
    vì tre vẫn “đứng thẳng hàng” như người Việt ta vẫn kiên cường, bất khuất trước
    mọi gian lao, thử thách.

    =>
    Chỉ một khổ thơ ngắn thôi nhưng cũng đủ để thể hiện những cảm xúc chân thành,
    thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu. 

    2. Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng
    Bác (khổ 2)

    (xem thêm…)

  • Dàn ý chứng minh câu tục ngữ Có chí thì nên

    Dàn ý chứng minh câu tục ngữ Có chí thì nên

    [ad_1]

    1. Mở bài:

    – Muốn đạt được thành công thì phải
    vượt qua khó khăn, trở ngại, muốn chiến thắng được nghịch cảnh thì cần có nhiều
    ý chí.

    – Bàn về vai trò của ý chí, người
    xưa từng nói: “Có chí thì nên”.

    Chứng minh câu tục ngữ Có chí thì nên

    2. Thân bài:

    a. Giải thích ý nghĩa câu tục
    ngữ:

    – “Chí” là hoài bão, lí tưởng tốt
    đẹp, ý chí, nghị lực, sự kiên trì. Chí là điều cần thiết để con người vượt qua
    trở ngại.

    – “Nên” là sự thành công, thành đạt,
    đạt đến mụ tiêu, mục đích và ý nguyện trong mọi việc.

    – “Có chí thì nên” nhằm khẳng định
    vai trò, ý nghĩa to lớn của ý chí trong cuộc sống. Khi ta làm bất cứ một việc
    gì, nếu chúng ta có ý chí, nghị lực và sự kiên trì thì nhất định chúng ta sẽ vượt
    qua được mọi khó khăn, trở ngại để đi đến thành công.

    b. Tại sao người có ý chí và
    nghị lực mạnh mẽ thì sẽ thành công?

    – Đây là một đức tính không thể
    thiếu được trong cuộc sống khi ta làm bất cứ việc gì, muốn thành công đều phải
    trở thành một quá trình, một thời gian rèn luyện lâu dài. Có khi thành công đó
    lại được đúc rút kinh nghiệm từ thất bại này đến thất bại khác.

    – Cuộc đời là một hành trình, ở đó
    có nhiều gian nan, thử thách, hiểm nguy chờ đợi chúng ta.

    – Cuộc sống không bao giờ dễ dàng.
    Không chỉ qua một lần làm việc thì thành công, mà chính ý chí, nghị lực, lòng
    kiên trì mới là sức mạnh giúp con người vượt qua khó khăn, trở ngại đi đến
    thành công.

    – Càng gian nan, chịu đựng thử
    thách trong công việc thì sự thành công càng vinh quang, càng đáng tự hào.

    – Nếu chỉ một lần thất bại mà vội
    nản lòng, nhụt chí thì khó đạt được mục đích. Ý chí giúp con người đứng vững
    trong gian nan, trở ngại, kiên định với mục tiêu.

    Dẫn chứng:

    – Nhà bác học Edison nhờ có ý chí
    kiên định, không bi qua, chán nản sau hơn nghìn lần thử nghiệm thất bại, cuối
    cùng đã sáng tạo ra được bóng đèn điện.

    – Thầy Nguyễn Ngọc Kí bị liệt cả
    hai tay, phải tập viết bằng chân và đã tốt nghiệp trường đại học và đã trở
    thành một nhà giáo mẫu mực được mọi người kính trọng.

    – Các vận động viên khuyết tật điều
    khiển xe lăn bằng tay mà đạt huy chương vàng.

    (xem thêm…)

  • Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Quảng Ninh 2021

    Đề và đáp án thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Quảng Ninh 2021

    [ad_1]

    Thời gian làm bài: 120 phút, không kể
    thời gian phát đề

    I. ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)

    Đọc đoạn trích sau:

    (1) Tôi
    thích lên danh sách. Đây là lời đề nghị: hãy lên danh sách năm mươi điều bạn
    trân
    trọng, biết ơn (vâng, năm mươi). Mười điều đầu tiên rất dễ: người thân, công việc,
    gia đình…
    Biết ơn vì bạn nói tiếng Việt (hoặc tiếng Nhật,
    tiếng Đức). Biết ơn vì có đủ hai mắt, có trái tim khỏe, hoặc vì bạn không sống
    trong vùng chiến tranh. Biết ơn người khác. Cầu
    chúc cho người nông dân nỗ lực làm nên thức ăn trên bàn. Cầu chúc cho người
    công
    nhân tạo ra chiếc xe máy bạn đi. Cầu chúc cho người bán hàng nơi bạn mua quần
    áo. Cầu chúc cho người phục vụ quán ăn bạn đến
    hôm qua.

    (2) Đó là thái độ biết ơn. Hãy lưu tâm đến
    những phúc lành của mình, đừng xem bất cứ điều gì là hiển nhiên. Tôi chắc chắn
    bạn sẽ có nhiều thứ biết ơn hơn những gì bạn thấy. Chỉ cần nghĩ đến. Chỉ cần
    trân trọng. Và để ý xem điều gì sẽ xảy đến.

    (Trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma, NXB
    Trẻ, 2019, tr.33-34)

    Đáp án đề thi môn Ngữ văn vào 10 năm 2021

    Thực hiện các yêu cầu:

    Câu 1. (0,5
    điểm)
    Theo đoạn văn (1), tác giả đề
    nghị
    điều gì?

    Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra thành
    phần biệt lập trong câu:
    Tôi chắc chắn bạn sẽ có nhiều thứ biết ơn hơn những
    gì bạn thấy.

    Câu 3. (0,5
    điểm
    ) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong các câu in đậm.

    Câu 4. (0,5 điểm) Trong lời đề nghị của tác giả về
    những điều cần trân trọng, biết ơn, em tâm đắc nhất điều gì? Vì sao?

    II. LÀM VĂN (8,0 điểm)

    Câu 1. (3,0
    điểm
    )

    Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc
    hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của
    lòng biết ơn trong cuộc sống. Đoạn văn có câu sử dụng thành phần khởi ngữ (gạch
    chân thành phần khởi ngữ).

    Câu 2. (5,0
    điểm)

    Cảm nhận của em về đoạn trích sau:

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

     

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    (Trích Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.144)

    —–HẾT—–

     

    (xem thêm…)

  • Đáp án đề thi Ngữ văn vào 10 tỉnh Thanh Hoá 2021

    Đáp án đề thi Ngữ văn vào 10 tỉnh Thanh Hoá 2021

    [ad_1]

    ĐỀ THI VÀO LỚP 10 THPT 2021–
    THANH HOÁ

    Thời gian làm bài: 120 phút (không
    kể thời gian giao đề)

    I. ĐỌC HIỂU (3,0
    điểm)

    Đọc đoạn trích sau:

    Tình yêu thương chân thật thường rất vị tha. Người có tình yêu chân
    thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là bản thân mình. Tình
    yêu ấy làm cho chúng ta thay đổi bản thân và một ngày trưởng thành hơn. Tình
    yêu thương chân thành và sâu sắc bao giờ cũng trường tồn ngay cả sau khi người
    đó đã từ giã cuộc đời. Tuy nhiên, yêu thương không được bày tỏ thì không bao
    giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó (
    ...)

    Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người xung quanh ngay khi chúng ta
    còn hiện diện trong cuộc sống này. Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa
    sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta. Bạn đừng ngần ngại khi muốn nói với ai đó rằng
    bạn rất yêu quý họ!

    (Trích Cho đi là còn mãi,
    Azim Jamal & Harvey McKinnon, NXB Trẻ, 2010, tr. 56-57)

    Đáp án Ngữ văn thi vào 10 Thanh Hoá 2021

    Đáp án môn Ngữ văn thi vào 10 Thanh Hoá 2021

    Thực hiện các yêu cầu sau:

    Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích?

    Câu 2. Theo đoạn trích, người có tình
    yêu thương chân thật
    thường nghĩ gì?

    Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng: Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa
    sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta.

    Câu 4. Anh/ chị có đồng tình với nhận định của tác giả: yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích
    thị của nó
    ? Vì sao

    II. TẬP LÀM VĂN (7 điểm)

    Câu 1: (2,0 điểm)

    Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị
    viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sức mạnh của tình yêu
    thương trong cuộc sống.

    Câu 2: (5,0 điểm)

    Cảm nhận của anh/chị trong đoạn thơ sau:

    Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

     

    Mai về miền Nam thương trào nước mắt

    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

    Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

    (Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương,

    Ngữ văn 9, Tập hai, NXB giáo dục Việt Nam, 2015,
    tr 58-59)

    —–HẾT—–

    (xem thêm…)

  • Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức

    Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Ngữ văn 7 Kết nối tri thức gồm 2 file: SGK Ngữ văn 7 tập 1 KNTT và SGK Ngữ văn 7 tập 2 KNTT do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành và phân phối. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Ngữ văn 7 Kết nối tri thức.

    SHS Ngữ văn 7 tập 1 KNTT

    Sách học sinh Ngữ văn 7 tập 1 Kết nối tri thức

    Tác giả: Bùi Mạnh Hùng (Tổng Chủ biên), Phan Huy Dũng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Nguyễn Thị Mai Liên, Lê Trà My, Lê Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Hải Phương.

    Xem trực tiếp SGK TẬP 1

    TÂP 2

    TẢI VỀ BỘ SÁCH VĂN 7

    sachhoc.info cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!

     

     

  • Sách giáo khoa Âm nhạc 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Âm nhạc 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Âm nhạc 7 Cánh Diều. Sách do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh ấn hành và phân phối. Sách giáo khoa Âm nhạc 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Âm nhạc 7 Cánh Diều.

    nguvanthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, nguvanthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK Âm nhạc 7 Cánh Diều

    Sách học sinh Âm nhạc 7 Cánh Diều

    Tác giả: Đỗ Thanh Hiên, Nguyễn Mai Anh, Lại Thị Phương Thảo, Vũ Ngọc Tuyên.

    Tải Sách giáo khoa Âm nhạc tại đây:

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK Âm nhạc 7 Cánh Diều

    nguvanthcs.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!



    [ad_2]

  • Sách giáo khoa Công nghệ 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Công nghệ 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Công nghệ 7 Cánh Diều. Sách do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh ấn hành và phân phối. Sách giáo khoa Công nghệ 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Công nghệ 7 Cánh Diều.

    nguvanthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, nguvanthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK Công nghệ 7 Cánh Diều

    Sách học sinh Công nghệ 7 Cánh Diều

    Tác giả: Nguyễn Tất Thắng (Tổng Chủ biên), Dương Văn Nhiệm (Chủ biên), Phạm Thị Lam Hồng, Nguyễn THị Ái Nghĩa, Nguyễn Thị Vinh.

    Tải Sách giáo khoa Công nghệ tại đây:

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK Công nghệ 7 Cánh Diều

    nguvanthcs.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!



    [ad_2]

  • Sách giáo khoa Giáo dục thể chất 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Giáo dục thể chất 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK GDTC 7 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Sách giáo khoa GDTC 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD GDTC 7 Cánh Diều.

    nguvanthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, nguvanthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK GDTC 7 Cánh Diều

    Sách học sinh GDTC 7 Cánh Diều

    Tác giả: Lưu Quang Hiệp (Tỏng Chủ biên), Bùi Ngọc (Chủ biên), Nguyễn Ngọc Tuấn, Nguyễn Xuân Trãi, Đặng Thị Thu Thuỷ.

    Tải Sách giáo khoa GDTC tại đây:

    SGK Giáo dục thể chất 7 Cánh Diều

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK Âm nhạc 7 Cánh Diều

    nguvanthcs.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!



    [ad_2]

  • Sách giáo khoa HĐTN 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa HĐTN 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK HĐTN 7 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Sách giáo khoa HĐTN 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD HĐTN 7 Cánh Diều.

    nguvanthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, nguvanthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK HĐTN 7 Cánh Diều

    Sách học sinh HĐTN 7 Cánh Diều

    Tác giả của Sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp 7 Cánh Diều gồm: Nguyễn Dục Quang (Tổng Chủ biên), Nguyễn Đức Sơn (Chủ biên), Đàm Thị Vân Anh, Nguyễn Thuý Quỳnh, Bùi Thanh Xuân.

    Tải SGK Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp 7 Cánh Diều tại đây:

    SGK Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp 7 Cánh Diều

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK HĐTN 7 Cánh Diều

    nguvanthcs.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!



    [ad_2]

  • Sách giáo khoa Khoa học tự nhiên 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Khoa học tự nhiên 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK KHTN 7 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Sách giáo khoa KHTN 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD KHTN 7 Cánh Diều.

    GIAOVIEthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, GIAOVIEthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK KHTN 7 Cánh Diều

    Sách học sinh KHTN 7 Cánh Diều

    Tác giả của Sách giáo khoa Khoa học tự nhiên 7 Cánh Diều gồm: Mai Sĩ Tuấn (Tổng Chủ biên), Đinh Quang Bảo, Nguyễn Văn Khánh, Đặng THị Oanh (đồng Chủ biên), Nguyễn Văn Biên, Đào Tuấn Đạt, Phan Thị Thanh Hội, Ngô Văn Hưng, Đỗ Thanh Hữu, Đỗ Thị Quỳnh Mai, Phạm Xuân Quế, Trương Anh Tuấn, Ngô Văn Vụ.

    Tải SGK Khoa học tự nhiên 7 Cánh Diều tại đây:

    SGK Khoa học tự nhiên 7 Cánh Diều

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK KHTN 7 Cánh Diều

    GIAOVIETHCS.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!

    [ad_2]

  • Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK LS và ĐL 7 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Sách giáo khoa LS và ĐL 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD LS và ĐL 7 Cánh Diều.

    Mỹ thuật 7 cánh diều gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, Mỹ thuật 7 cánh diều sẽ chia sẻ.

    SGK LSvaDL 7 Cánh Diều

    Sách học sinh LS và ĐL 7 Cánh Diều

    Tác giả của Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí 7 Cánh Diều gồm: Mai Sĩ Tuấn (Tổng Chủ biên), Đinh Quang Bảo, Nguyễn Văn Khánh, Đặng THị Oanh (đồng Chủ biên), Nguyễn Văn Biên, Đào Tuấn Đạt, Phan Thị Thanh Hội, Ngô Văn Hưng, Đỗ Thanh Hữu, Đỗ Thị Quỳnh Mai, Phạm Xuân Quế, Trương Anh Tuấn, Ngô Văn Vụ.

    Tải SGK Lịch sử và Địa lí 7 Cánh Diều tại đây:

    SGK Lịch sử và Địa lí 7 Cánh Diều

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK LS và ĐL 7 Cánh Diều

    Mỹ thuật 7 cánh diều cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!

    [ad_2]

  • Sách giáo khoa Mĩ thuật 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Mĩ thuật 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Mĩ thuật 7 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Sách giáo khoa Mĩ thuật 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Mĩ thuật 7 Cánh Diều.

    Sách giáo khoa – Tin học 7 cánh diều gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, Sách giáo khoa – Tin học 7 cánh diều sẽ chia sẻ.

    SGK Mĩ thuật 7 Cánh Diều

    Sách học sinh Mĩ thuật 7 Cánh Diều

    Tác giả của Sách giáo khoa Mĩ thuật 7 Cánh Diều gồm: Phạm Văn Tuyến (Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên), Ngô Thị Hương, Nguyễn Duy Khuê, Nguyễn Thị Mỵ, Nguyễn THị Hồng Thắm.

    Tải SGK Mĩ thuật 7 Cánh Diều tại đây:

    SGK Mĩ thuật 7 Cánh Diều

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK Mĩ thuật 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa – Tin học 7 cánh diều cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!

     

  • Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Ngữ văn 7 Cánh Diều gồm SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều và SGK Ngữ văn 7 tập 2 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Ngữ văn 7 Cánh Diều.

    nguvanthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, nguvanthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

    Sách học sinh Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

    Tác giả của Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Cánh Diều gồm: Nguyễn Minh Thuyết (Tổng Chủ biên), Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Lê Thị Tuyết Hạnh, Phạm Thị Thu Huyền, Nguyễn Văn Lộc.

    SGK Ngu van 7 tap 2 Canh Dieu

    Sách học sinh Ngữ văn 7 tập 2 Cánh Diều

    Tải SGK Ngữ văn 7 Cánh Diều tại đây:

    SGK NGỮ VĂN 7 TẬP 1 CÁNH DIỀU

    SGK NGỮ VĂN 7 TẬP 2 CÁNH DIỀU

    SGK Ngữ văn 7 Cánh Diều

    Xem thêm Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Chương trình GDPT 2018:

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

    Xem trực tiếp SGK Ngữ văn 7 tập 2 Cánh Diều

    nguvanthcs.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!



    [ad_2]

  • Sách giáo khoa Tiếng Anh 7 Cánh Diều

    Sách giáo khoa Tiếng Anh 7 Cánh Diều

    [ad_1]

    Chia sẻ đến quý thầy cô SGK Tiếng Anh 7 Cánh Diều của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Sách giáo khoa Tiếng Anh 7 Cánh Diều sẽ giúp ích cho quý thầy cô trong soạn KHBD Tiếng Anh 7 Cánh Diều.

    nguvanthcs.com gửi đến quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh toàn bộ SGK Cánh Diều lớp 7. Sách được chia sẻ dưới dạng file PDF. Nếu thầy cô, phụ huynh, học sinh cần file dạng ảnh, vui lòng để lại yêu cầu ở phần bình luận, nguvanthcs.com sẽ chia sẻ.

    SGK Tiếng Anh 7 Cánh Diều

    Sách học sinh Tiếng Anh 7 Cánh Diều

    Tác giả của Sách giáo khoa Tiếng Anh 7 Cánh Diều gồm: Nguyễn Thanh Bình (Tổng Chủ biên), Lê Nguyễn Như Anh (Chủ biên), Lê Thị Xuân Lan, Phạm Nguyễn Huy Hoàng, Đoà Xuân Phương Trang, Đinh Trần Hạnh Nguyên.

    Hiện, nguvanthcs.com đang cập nhật toàn bộ SGK mới của Chương trình GDPT 2018 nhằm phục vụ tốt cho hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh. Đây sẽ là nguồn tài liệu giúp thầy và trò thuận lợi hơn trong quá trình hoạt động của mình.

    Mọi thắc mắc và yêu cầu, vui lòng để lại tại phần bình luận, ngvanthcs.com sẽ cố gắng đáp ứng trong khả năng có thể.

    Tải SGK Lịch sử và Địa lí 7 Cánh Diều tại đây:

    SGK Tiếng Anh 7 Cánh Diều

    Xem thêm Bộ sách Cánh Diều lớp 7:

    Xem trực tiếp SGK Tiếng Anh 7 Cánh Diều

    nguvanthcs.com cảm ơn quý thầy cô, phụ huynh và các em học sinh đã ghé thăm. Rất mong được gặp lại. Xin chân thành cảm ơn!



    [ad_2]

  • 15 bài mẫu tóm tắt vợ nhặt đầy đủ- chi tiết

    15 bài mẫu tóm tắt vợ nhặt đầy đủ- chi tiết

    [ad_1]

    Tóm tắt văn bản Vợ nhặt,
    Tóm tắt Vợ nhặt dàn ý,
    tóm tắt: vợ nhặt vietjack,
    Tóm tắt Vợ nhặt Lớp vẫn thấy nhặt,
    Tóm tắt Vợ nhặt Giáo an,
    Tóm tắt Vợ nhặt đầy đủ chi tiết,
    Giáo AN Vợ nhặt,
    Tóm tắt Vợ nhặt học sinh giới

    Tóm tắt vợ nhặt đầy đủ- chi tiết
    Tóm tắt vợ nhặt đầy đủ- chi tiết

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 1

    Tràng là chàng trai xấu xí sống với mẹ ở xóm ngụ cư. Giữa nạn đói khủng khiếp, anh phải làm nghề kéo xe thóc thuê lên tỉnh để lấy tiền trang trải qua ngày. Ở đây, qua vài câu nói bông đùa và bốn bát bánh đúc, anh với cô thị đanh đá chỏng lỏn đã trở thành vợ chồng với nhau mà không cưới hỏi hay yêu đương gì. Cô thị theo không anh về làm vợ, trên đường về khác với vẻ đanh đá thường thấy, khi bị trêu, cô thị tỏ ra ngượng ngùng. Về đến nhà, cô khép nép khác thường. Khi bà cụ Tứ – mẹ anh Tràng về đến nhà, bà vừa ngạc nhiên, sững sờ vì có người gọi mình là mẹ; vừa đau buồn, tủi hổ, xót thương vì con mình lấy vợ đúng lúc khó khăn nhất không biết có qua nổi giai đoạn này không và người ta lấy con mình vì cái đói, cái khổ. Gạt đi những giọt nước mắt đau buồn, bà động viên các con yêu thương nhau và lạc quan hơn trong cuộc sống. Cuộc sống từ khi có nàng dâu thay đổi hoàn toàn, sự bừa bộn của căn nhà được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp, tươm tất. Bữa ăn đầu tiên khi về nhà chồng của cô thị chỉ vỏn vẹn là rau chuối và cám lợn, mọi người ăn trong nghẹn ngào, không ai nói với ai câu nào. Cô thị kể những mẩu chuyện người đi phá kho thóc Nhật cho anh Tràng và bà cụ Tứ, tưởng chừng chỉ là những câu chuyện vô thưởng vô phạt nhưng nó lại là chìa khóa, mở ra trong đầu anh Tràng lá cờ của Đảng và một cuộc sống mới trong tương lai hứa hẹn sẽ tốt đẹp và no đủ hơn hiện tại.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 2

    Thái Bình, Nam Định những năm 1945 là nơi mà nạn đói hoành hành nhất. Người chết ngã ra như rạ, không buổi nào người ta đi chợ, đi làm đồng mà không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí nồng mùi ẩm thối từ xác chết bốc ra. Giữa cái cảnh tối sầm vì đói khát, Tràng – một anh chàng tính khù khờ, ngu ngơ dắt về một cô vợ. Bọn trẻ thường ngày đùa giỡn với anh hôm nay cũng không dám đến gần vì trông anh hôm nay thấy lạ và khác thường quá. Cô vợ này của Tràng là Thị. Hai người kết duyên với nhau bằng vài câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Mẹ Tràng thấy con mang một cô gái về bảo là vợ trong lòng mà nửa vui nửa buồn. Giữa cái thời đói này người ta còn không dám mơ tới ngày mai chứ nói chi lấy vợ – mang thêm một cái miệng ăn về nhà. Bà chấp nhận nhưng trong lòng đầy lo âu rối bời. Sáng hôm sau, nhà của nhà anh trông thật lạ. Gọn gàng và sạch sẽ hơn hẳn. Cả nhà ngồi cùng nhau ăn sáng bằng nồi cháo lõng bõng, nhưng không khí trong nhà thật vui, cho đến khi nồi cháo lõng hết nhẵn, dù mẹ Tràng có nhanh trí đem nồi chè khoáng lên thì cũng chỉ là chè từ cám. Từ đó không ai nói với ai câu nào, vì ai cũng hiểu vị chát đầu lưỡi là thật và nó đã đem họ về thực tế. Họ không có lương thực. Một hồi trống thúc thuế vội vã dồn dập, Thị thắc mắc tại sao làng này vẫn còn đóng thuế, làng Thị người ta đã phá kho thóc của Nhật chia cho dân rồi. Tràng đang nghĩ đến những người phá kho thóc của Nhật, trong đầu vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 3

    Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí. Tác phẩm ban đầu có tên là Xóm ngụ cư, viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Bản thảo sau này được viết lại.

    Cái đói tràn xuống chợ, trẻ con ủ rũ, người lớn dật dờ, lặng lẽ. Tràng bông dắt người đàn bà xa lạ ấy về. Trẻ con có đứa gào lên “chông vợ hài”, người lớn bàn tán, những khuôn mặt u tối của họ như rạng rỡ lên. Về đến cái nhà vắng teo, bà cụ Tứ, mẹ Tràng về muộn; Tràng loanh quanh hết ra lại vào. Người đàn bà theo Tràng trong hoàn cảnh không ngờ. Hai lần gặp, và câu đùa với bốn bát bánh đúc người đàn bà ăn một chập và cái “chặc lưỡi” của Tràng.

    Bà cụ Tứ về, Tràng reo lên, bà ngạc nhiên. Thấy trong nhà có người đàn bà, lại chào bà là u, bà càng ngạc nhiên. Được Tràng giải thích, bà nín lặng. Bao nỗi niềm xáo trộn trong lòng bà. Nói chuyện với con dâu, bà khóc. Tràng bật lửa thắp đèn, bà vội lau nước mắt… mùi đống rấm và tiếng hờ khóc ở những nhà trong xóm có người chết vẳng tới.

    Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn. Từ trong nhà đến ngoài sân đều đổi thay, gọn gàng, sạch sẽ. Tràng thấy có bổn phận với vợ và yêu cái nhà mình hơn. Bữa ăn chỉ có rau chuối rối chấm muối với mỗi người hai lưng bát cháo lõng bõng. Bà cụ Tứ nói toàn những chuyên vui vẻ. Bà mừng con dâu mới bằng nồi cháo cám mà bà gọi vui là “chè khoán”. Tiếng trống thúc thuế ngoài đình nổi lên. Bà cụ Tứ lại khóc. Trong óc Tràng bỗng hiện lên lá cờ đỏ và đoàn người trên đê Sộp đi phá kho thóc.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 4

    “Vợ nhặt” – nằm trong tập truyện “Con chó xấu xí”, một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân viết sau cuộc Cách mạng tháng tám. Truyện giống như một bản cáo trạng tố cáo những tội ác của bọn thực dân Pháp, bọn phát xít đồng thời cũng phản ánh, tái hiện lại cuộc sống thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói 1945. Truyện mang tính nhân văn sâu sắc khi khắc hoạ thành công hình ảnh những người nông dân dù hoàn cảnh nghiệt ngã nào cũng sống vượt lên, ra sức yêu thương đùm bọc lẫn nhau khi khó khăn, đói khổ.

    “Vợ Nhặt” là câu chuyện kể về năm 1945, khi nạn đói khủng khiếp xảy ra khắp nơi, người chết chất đống không chỗ chôn, người sống thì như những bóng ma, dật dờ, gầy rộc người. Và nhân vật chính là Tràng, một người đàn ông xấu xí, dáng người thô kệch, ế vợ, sống ở xóm ngụ cư. Tràng làm nghề kéo xe bò kiếm sống qua ngày nuôi mẹ già – bà cụ Tứ

    Trong dịp kéo xe thóc cho Liên đoàn, Tràng có quen biết một cô gái nhưng vài ngày sau trận đói, gặp lại Tràng không thể nào nhận ra cô gái trước ấy nữa, bởi vẻ tiều tuỵ, hốc hác của cô. Tràng mời cô gái ăn bánh đúc và sau một câu nói nửa đùa nửa thật, cô gái xa lạ này đã theo anh về làm vợ. Khi Tràng dắt người đàn bà xa lạ về, cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, những khuôn mặt u tối bổng rạng rỡ lên.

    Mẹ Tràng – bà cụ Tứ về muộn, khi thấy trong nhà có người con gái lạ, lại kêu bà là u, bà rất ngạc nhiên. Được Tràng giải thích, trong lòng bà xuất hiện bao nỗi niềm, ngỡ ngàng có, buồn có nhưng cũng vui và hi vọng hơn. Bà nói chuyện với con dâu không hề tỏ thái độ khinh rẻ người phụ nữ đã theo không con trai mình về. Rồi bà khóc… Đêm tân hôn của họ diễn ra lặng lẽ trong không khí thê lương với mùi rơm rạ và tiếng khóc vẳng tới từ những gia đình trong xóm của người chết.

    Sáng hôm sau, một buổi sáng mùa hạ với ánh nắng chói lói. Tràng thức dậy muộn. Bà cụ Tứ và cô dâu mới đã dọn dẹp quét tước gọn gàng sạch sẽ từ trong nhà đến ngoài sân. Tràng thấy vui và cảm thấy mình phải có bộ phận với vợ, có trách nhiệm với gia đình hơn. Nhìn vợ, Tràng thấy đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, không còn cái vẻ gì chao chát như ở lần đầu hai người gặp nhau. Và cụ Tú xắm xắn chuẩn bị bữa ăn với rau chuối rối chấm muối, hai lưng bát cháo lỏng và nồi chè cám. Trong bữa cơm, bà cụ chỉ toàn kể những chuyện vui vẻ, vợ Tràng kể cho anh nghe về Việt Minh, anh dần hiểu. Bổng tiếng trống thúc thuế ngoài đình nổi lên giục giã làm trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh một lá cờ đỏ bay phấp phới cùng đoàn người trên đê Sộp đang đi phá kho thóc.

    Người dân nghèo đã được thắp ngọn lửa hi vọng vào một tương lai tươi sáng hơn từ con đường cách mạng cứu nước.

    Tóm tắt truyện ngắn Vợ Nhặt – Bài mẫu 5

    Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra lan tràn khắp nơi trên cả nước, người chết như rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma. Tràng là chàng trai xấu xí thô kệch, ế vợ, Tràng sống ở xóm ngụ cư. Anh làm nghề kéo xe bò thuê và sống cùng người mẹ già. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Tràng đã quen với một cô gái. Vài ngày sau gặp lại, Tràng không còn nhận ra cô gái ấy, bởi vẻ tiều tụy, đói rách làm cô đã khác đi rất nhiều. Tràng đã mời cô gái một bữa ăn, cô gái liền ăn một lúc bốn bát bánh đúc. Sau một câu nói nửa thật, nửa đùa, cô gái đã theo anh về nhà làm vợ. Việc Tràng nhặt được vợ đã làm cả xóm ngu cư ngạc nhiên, nhất là bà Cụ Tứ (mẹ của Tràng) cũng không nổi bàng hoàng ngạc nhiên và lo lắng nhưng rồi bà cụ cũng đã hiểu ra và chấp nhận người con dâu ấy. Trong bữa cơm” đón nàng dâu mới, họ chỉ với một bữa cháo kèm theo là nồi cháo cám bà cụ tứ dành cho nàng dâu nhân bữa cơm đón nàng dâu mới với tấm lòng độ lượng, bao dung. Tác phẩm kết thúc ở chi tiết vào buổi sáng hôm sau tiếng trống thúc thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 6

    Chuyện kẻ về số phận của một chàng trai với cái tên là Tràng. Trong thời buổi loạn lạc, nạn đói hoành hành, đó là thời điểm của những năm 1945 đã làm hơn 2 triệu người chết, đâu đâu cũng là sự chết chóc. Trong hoàn cảnh như vậy mà chàng trai tên là Tràng lại cưới vợ (hay nói đúng hơn là nhặt được vợ). Nhân vật Tràng ở đây được tác giả miêu tả là một anh chàng rất xấu trai, ăn nói cộc lốc, thô kệch, ấy thế mà lại lấy được vợ. Khi nghe tin anh Tràng cưới vợ thì cả xóm nơi Tràng ở đều ngạc nhiên và lo lắng cho anh, đặc biệt là mẹ của anh mà mọi người gọi “bà là bà cụ Tứ” lúc này lúc vui lúc buồn không biết tại sao? Khi con trai của Bà cưới vợ mà Bà chẳng có gì hơn ngoài lời chúc đến vợ chồng anh là hãy sống tốt.

    Bữa cơm ăn mừng cho sự xuất hiện của nàng dâu mới, Bà cụ kể toàn những chuyện vui, Bà hi vọng rằng tương lai của hai đứa con mình sẽ tươi sáng, với “nồi chè khoán” do chính tay Bà nấu, tuy chát đắng nhưng thể hiện được sự quan tâm của Bà tới hạnh phúc của con. Đang trong cuộc vui của gia đình mừng nàng dâu mới thì có tiếng trống thúc thuế dồn dập, trong đầu Tràng nghĩ tới lá cờ Việt Nam bay phất phơ và cùng nhiều người đi cướp kho thóc của giặc để chia cho dân nghèo. Đó là tinh thần đoàn kết của người dân cùng khổ trong chiến tranh và họ vẫn luôn hi vọng rằng sẽ có một tương lai tươi sáng hơn đang chờ đón họ phía trước.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 7

    Giữa lúc xóm ngụ cư xơ xác, tiêu điều trong nạn đói đầu năm 1945, vào một buổi chiều tà, Tràng – một người nông dân nghèo, luống tuổi, thô kệch, lại dở hơi- dẫn một người phụ nữ về nhà.

    Vì đang lâm cảnh ngộ đói rách cùng đường nên chỉ qua vài lần gặp gỡ với một vài câu nói đùa, rồi cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc do Tràng “chiêu đãi”, người phụ nữ này ưng thuận theo không anh về nhà.

    Mẹ Tràng (bà cụ Tứ) đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng, vừa lo âu, vừa hi vọng nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo không con mình.

    Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc, tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới. Sáng hôm sau, một buổi sáng mùa hạ, nắng chói lói. Bà cụ Tứ và cô dâu mới xăm xắn dọn dẹp, quét tước trong ngoài. Trước cảnh ấy, Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình và thấy mình nên người, trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau. Bà cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài bát cháo loãng và một nồi chè cám.

    Qua lời kể của người vợ, Tràng dần dần hiểu được Việt Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, phía trước là một lá cờ đỏ bay phất phới.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 8

    Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, cơ cực ở xóm ngụ cư. Một ngày kia, trong buổi chiều, trong không khí thê thảm, ảm đạm vì đói, Tràng dẫn về một người phụ nữ. Đó là vợ anh – người vợ nhặt. Tràng đã bắt gặp vợ tương lai của mình đang cảnh đói rách, mời ăn bốn bát bánh đúc kèm theo lời nói đùa vui. Bà mẹ già của Tràng đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu trong mối đau đớn và thương cảm. Tràng cảm thấy con người mình đổi khác. Từ chút đùa đến thoáng lo, bây giờ Tràng thấy niềm vui thành người có trách nhiệm, dù đêm đầu tiên của đôi vợ chồng qua đi trong không khí khét lẹt mùi chết chóc và tiếng hờ khóc ai oán.

    Bà mẹ nghèo đãi hai con ít cháo và nồi chè đặc biệt. Miếng cám chát bứ, nghẹn cổ nhưng Tràng vẫn cùng vợ hướng về một cuộc sống đổi khác. Trong óc anh hiện ra đám người đói phá kho thóc và lá cờ đỏ bay phất phới.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 9

    “Vợ nhặt” là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, được in vào năm 1962. Tác phẩm có tiền thân là “xóm ngụ cư” nhưng ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, tác phẩm bị mất bản thảo, đến khi hòa bình lập lại năm 1954, Kim Lân dựa trên cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

    Cái đói đã bắt đầu tràn xuống xóm ngụ cư, trẻ con ủ rũ, người lớn dật dờ, lặng lẽ y như những bóng ma. Giữa lúc ấy, Tràng dắt người đàn bà xa lạ về nhà. Trẻ con trong xóm gào lên “chồng vợ hài”. Người lớn ngạc nhiên bàn tán, những khuôn mặt u tối của họ bỗng rạng rỡ lên. Về đến gian nhà vắng teo, rúm ró, xiêu vẹo, Tràng trong tâm trạng nóng ruột chờ bà cụ Tứ; người đàn bà xa lạ kia ngồi mớn ở mép giường cũng trong tâm trạng buồn, lo lắng. Trời chạng vạng tối, cụ Tứ về rất ngạc nhiên khi có người đàn bà lạ trong nhà lại chào mình bằng u. Được Tràng giải thích, bà nín lặng, bao nỗi niềm xáo trộn trong lòng, xót xa, ai oán, buồn tủi xen lẫn cả niềm vui rồi mở rộng trái tim đón lấy thị, nhận là con dâu. Đêm hạnh phúc của vợ chồng Tràng diễn ra trong cảnh chết chóc, tan tác và thê lương. Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn và nhận ra quang cảnh nhà cửa có sự thay đổi thay, đống quần áo rách được đưa ra phơi, đống rác ở đầu ngõ đã được hót sạch, ang nước khô đã được kín đầy. Cảnh vật ấy làm cho Tràng thấm thía, có cảm giác phấn chấn và có trách nhiệm bổn phận với gia đình. Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới là một lùm rau chuối thái rối, muối trắng, bát cháo lõng bõng và một nồi chè khoán. Trong bữa cơm, cụ Tứ nói toàn chuyện vui và khi nghe tiếng thúc thuế nổi lên, bà cụ lại khóc, còn trong Tràng bỗng hiện lên lá cờ đỏ và đoàn người trên đê đi phá kho thóc của Nhật.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 10

    Chuyện kể về số phận của một chàng trai với cái tên là Tràng. Trong thời buổi loạn lạc, nạn đói hoành hành, đó là thời điểm của những năm 1945 đã làm hơn 2 triệu người chết, đâu đâu cũng là sự chết chóc. Trong hoàn cảnh như vậy mà chàng trai tên là Tràng lại cưới vợ (hay nói đúng hơn là nhặt được vợ). Nhân vật Tràng ở đây được tác giả miêu tả là một anh chàng rất xấu trai, ăn nói cộc lốc, thô kệch, ấy thế mà lại lấy được vợ. Khi nghe tin anh Tràng cưới vợ thì cả xóm nơi Tràng ở đều ngạc nhiên và lo lắng cho anh, đặc biệt là mẹ của anh mà mọi người gọi “bà là bà cụ Tứ” lúc này lúc vui lúc buồn không biết tại sao? Khi con trai của Bà cưới vợ mà Bà chẳng có gì hơn ngoài lời chúc đến vợ chồng anh là hãy sống tốt.

    Bữa cơm ăn mừng cho sự xuất hiện của nàng dâu mới, Bà cụ kể toàn những chuyện vui, Bà hi vọng rằng tương lai của hai đứa con mình sẽ tươi sáng, với “nồi chè khoán” do chính tay Bà nấu, tuy chát đắng nhưng thể hiện được sự quan tâm của Bà tới hạnh phúc của con. Đang trong cuộc vui của gia đình mừng nàng dâu mới thì có tiếng trống thúc thuế dồn dập, trong đầu Tràng nghĩ tới lá cờ Việt Nam bay phất phơ và cùng nhiều người đi cướp kho thóc của giặc để chia cho dân nghèo. Đó là tinh thần đoàn kết của người dân cùng khổ trong chiến tranh và họ vẫn luôn hi vọng rằng sẽ có một tương lai tươi sáng hơn đang chờ đón họ phía trước

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 11

    Người chết như ngả dạ, người sống dật dờ như những bóng ma trong cái nạn đói khủng khiếp năm 1945. Anh cu Tràng – nhân vật chính của truyện hiện lên với hình ảnh “xấu xí thô kệch”, lại ế vợ và là người dân trong xóm ngụ cư. Tràng gặp thị – một người đàn bà đỏng đánh, kém duyên. Nhờ lòng thương người, Tràng đãi thị ăn một chặp bốn cái bánh đúc. Thị theo Tràng về nhà làm vợ, gặp bà cụ Tứ – mẹ của Tràng. Bà cụ Tứ tuy rất ngạc nhiên khi Tràng dắt vợ về nhưng bà cũng thấu hiểu và thấy thương cho người con gái ấy. Khi về làm vợ Tràng, thị đã thay đổi, trở thành một người biết chăm lo cho gia đình chứ không còn đỏng đảnh như trước kia. Anh cu Tràng cũng thay đổi, anh thấy lo cho tương lai sau này và có những suy nghĩ sâu xa hơn về cuộc sống. Ba mẹ con Tràng, Thị và bà cụ Tứ cùng nhau ăn nồi cháo cám rất vui vẻ, còn gọi đùa rằng đó là chè khoán. Trong lúc trò chuyện, thị có nhắc tới chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật, lúc này trong óc Tràng hiện lên hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 12

    Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân trích trong tập Con chó xấu xí. Chuyện kể về số phận của một chàng trai với cái tên là Tràng. Trong thời buổi nạn đói hoành hành của những năm 1945 đã làm hơn 2 triệu người chết, đâu đâu cũng là sự chết chóc mà chàng trai tên là Tràng lại cưới vợ (hay nói đúng hơn là nhặt được vợ). Tràng được tác giả miêu tả là một anh chàng rất xấu trai, ăn nói cộc lốc, thô kệch, ấy thế mà lại lấy được vợ. Khi nghe tin anh Tràng cưới vợ thì cả xóm nơi Tràng ở đều ngạc nhiên và lo lắng cho anh, đặc biệt là mẹ của anh mà mọi người gọi bà là bà cụ Tứ lúc vui lúc buồn không biết tại sao? Khi con trai của bà cưới vợ mà bà chẳng có gì hơn ngoài lời chúc đến vợ chồng anh là hãy sống tốt. Bữa cơm ăn mừng cho sự xuất hiện của nàng dâu mới, bà cụ kể toàn những chuyện vui, bà hi vọng rằng tương lai của hai đứa con mình sẽ tươi sáng, “nồi chè khoán” do chính tay bà nấu tuy chát đắng nhưng thể hiện được sự quan tâm của bà tới hạnh phúc của con. Đang trong cuộc vui của gia đình mừng nàng dâu mới thì có tiếng trống thúc thuế dồn dập, trong đầu Tràng nghĩ tới lá cờ Việt Nam bay phất phới cùng nhiều người đi cướp kho thóc của giặc để chia cho dân nghèo. Đó là tinh thần đoàn kết của người dân cùng khổ trong chiến tranh và họ vẫn luôn hi vọng rằng sẽ có một tương lai tươi sáng hơn đang chờ đón họ phía trước.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 13

    Câu chuyện trong tác phẩm Vợ nhặt xảy ra tại thời điểm nạn đói vào năm 1945 đang xảy ra và cướp đi sinh mạng của hàng triệu người đã chết đói vì thiếu lương thực. Hoàn cảnh lúc bấy giờ rất thê lương, đến ăn cũng không đủ không nói đến những nhu cầu cơ bản khác.

    Trong hoàn cảnh đó chàng trai tên là Tràng với ngoại hình xấu xí, thô kệch lại cưới được vợ mà đó lại là vợ nhặt. Khi nghe tin Tràng cưới vợ cả xóm đều ngạc nhiên và cả lo lắng, nhất là mẹ của Tràng, bà cụ Tứ vui buồn lẫn lộn, vui khi con trai xấu xí, thô kệch đã có vợ nhưng vô cùng lo lắng khi lại có thêm một miệng ăn trong khi hoàn cảnh thiếu ăn. Khi con có vợ bà chỉ đến chúc phúc khuyên vợ chồng hãy sống tốt.

    Ngày hôm sau nhờ con dâu mới mà nhà cửa đều gọn gàng sạch sẽ. Bữa cơm gia đình lại có thêm sự xuất hiện của nàng dâu mới, bà cụ trò chuyện vui vẻ và hi vọng tương lai của hai đứa sẽ tươi sáng, cả nhà chỉ có “nồi chè khoán” do chính tay cụ Tứ nấu nhưng không khí lại rất vui vẻ, nồi chè tuy chát đắng khó ăn những thể hiện được tấm lòng người mẹ yêu thương và mong muốn con mình được hạnh phúc.

    Đang trong bữa ăn vui vẻ thì tiếng trống thúc thuế vang lên, lúc này chàng trai Tràng nghĩ tới lá cờ đỏ đang tung bay phất phơ và nhiều người đang đi phá kho thóc chia cho dân nghèo.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 14

    Câu chuyện kể về những năm 1945 khi nạn đói khủng khiếp đang hoành hành. Những con người thiếu ăn sống vật vờ và chết đói. Hoàn cảnh bi đát như vậy nhưng Tràng chàng trai bề ngoài xấu xí đã có vợ, họ gặp nhau đều là những người cùng chung cảnh ngộ.

    Ai nấy đều bất ngờ trong khi mẹ Tràng (bà cụ Tứ) đón nhận người con dâu tâm trạng vừa mừng, vừa lo âu nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo con mình. Bà cầu chúc và hi vọng hai đứa sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Ngày hôm sau bà cụ Tứ và cô dâu dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ. Tràng thấy vậy càng hiểu mình phải có trách nhiệm với nhà và với người vợ mới. Bà cụ Tứ chuẩn bị bữa ăn cho gia đình hai con vài bát cháo loãng và một nồi chè cám, tuy đơn sơ nhưng lại vô cùng vui vẻ, ấm áp.

    Tiếng trống dồn dập vang lên và trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh người dân bị đói đang kéo nhau đi phá kho thóc Nhật chia cho người nghèo, phía trước đó là lá cờ đỏ bay phất phới trong gió.

    Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài mẫu 15

    Nước ta trong thời điểm năm 1945 nạn đói hoành hành và rất nhiều người chết. Những con người sống không bằng chết, vật vờ đi kiếm ăn. Trong xóm nhỏ có anh Tràng bề ngoại xấu xí, sống cùng mẹ già hàng ngày Tràng đi kéo xe bò thuê cho người khác. Dù lớn tuổi nhưng ước mơ về một cô vợ thật quá xa xỉ khi cái ăn không có thì làm sao nghĩ đến hạnh phúc lứa đôi. Trong một lần kéo xe, Tràng quen và giúp đỡ một cô gái đang đói, hai người nhanh chóng kết thân. Tràng dẫn cô gái này về làm vợ.

    Việc Tràng dẫn cô gái vừa mới quen về làm vợ khiến cả làng vô cùng ngạc nhiên, nhưng họ cũng lo lắng cho gia đình của Tràng bởi tình cảnh nghèo đói rất khó khăn, bởi lúc này thêm người là thêm miệng ăn.

    Bà cụ Tứ lúc này buồn vui đan xen, bà vui vì con có vợ nhưng buồn và lo lắng khi không biết lấy gì để kiếm sống qua ngày. Bữa ăn đầu tiên đó là nồi cháo cám nhưng bà gọi là chè. Cô con dâu hiểu được tấm lòng của người mẹ và hoàn cảnh gia đình cùng mẹ dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, tươm tất. Tràng cảm thấy mình là con người mới và trách nhiệm với gia đình hơn.

    Từ đằng xa tiếng trống nổi lên, hình ảnh xuất hiện đó là những người dân đi phá kho thóc cứu đói, lá cờ bay trong gió mang lại niềm hi vọng về tương lai mới.

    [ad_2]

  • Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt chi tiết

    Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt chi tiết

    [ad_1]

    Vợ nhặt là một tác phẩm có tính nhân đạo sâu sắc của nhà văn Kim Lân. Trong bài viết này chúng tôi xin chia sẻ dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt cùng với bài văn mẫu phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt hay và chi tiết.

    Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt chi tiết
    Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt chi tiết

    1. Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt

    1. Mở bài giá trị nhân đạo trong vợ nhặt

    – Giới thiệu tác giả, tác phẩm

    + Kim Lân (1921-2007) là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam đương đại.

    + Truyện ngắn Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945.

    – Giới thiệu khái quát giá trị nhân đạo của tác phẩm: “Vợ nhặt” của Kim Lân đã thổi làn gió mát, đem hi vọng vào tương lai tươi sáng cho người đọc bằng giá trị nhân đạo sâu sắc.

    2. Thân bài

    * Khái quát về tác phẩm

    – Hoàn cảnh sáng tác: Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí, tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư được Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), ông dựa vào một phần truyện cũ để viết truyện ngắn này.

    – Nội dung chính: Truyện ngắn viết về tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, đồng thời thể hiện bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ ngay trên bờ vực của chết.

    * Luận điểm 1: Xót xa thương cảm với cuộc sống bi thảm của người dân nghèo trong nạn đói năm 1945.

    +) Nạn đói khủng khiếp năm 1945

    – Cái đói bao trùm khắp nơi và tràn đến cái xóm nghèo của dân ngụ cư.

    – Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình lũ lượt đội chiếu, dắt díu bồng bế nhau lên, xám lại như những bóng ma.

    – Buổi sáng nào cũng có vài người chết còng queo bên đường, tỏa mùi gây gây của xác chết.

    – Toàn bộ câu chuyện của Tràng diễn ra trên cái cảnh đói khổ và tang tóc ấy: Cảnh xóm ngụ cư vào buổi chiều Tràng đưa người vợ theo về; tiếng hờ khóc trong đêm, mùi đốt đống rấm.

    +) Tình cảnh của gia đình Tràng

    – Tràng: nghèo, không lấy nổi vợ.

    – Vợ Tràng: Vì đói mà phải theo không về làm vợ, không có cưới cheo gì.

    – Tình cảm xót xa của bữa cơm đón nàng dâu mới (nồi cháo loãng và bát cám).

    +) Sự cưu mang, niềm hi vọng của người lao động nghèo khổ

    – Truyện đã làm sáng lên trên cái nền đen tối ảm đạm ấy sức sống, khát vọng: mái ấm gia đình và sự nương tựa, che chở cho nhau của những người lao động nghèo khổ, sáng lên niềm tin hy vọng của họ.

    – Tình huống Tràng có vợ, “nhặt” được vợ: Thái độ của Tràng từ lúc chỉ coi là chuyện tầm phào đến lúc xem đó là chuyện nghiêm chỉnh của đời mình (Dẫn và phân lích những lời nói, hành động của Tràng khi mới gặp người đàn bà và trong cảnh đưa chị ta về nhà).

    – Cái đói khổ đã khiến cho con người bị rẻ rúng, mất đi giá trị:

    + Điển hình là nhân vật người vợ nhặt, vì quá túng quẫn thị không quan tâm đến danh dự cứ vin vào lời nói đùa của Tràng mà “cong cớn đòi ăn”, còn chấp nhận theo không Tràng về làm vợ.

    + Chính Tràng cũng vậy, vì quá nghèo khổ mà khó có thể lấy vợ, đến khi lấy được vợ cũng là nhờ hoàn cảnh éo le.

    * Luận điểm 2: Gián tiếp tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân phát xít đối với nhân dân ta

    – “đằng thì chúng bắt nhổ lúa trồng đay, đằng thì chúng bắt đóng thuế”, chúng không cho nhân dân ta con đường sống, đẩy nhân dân đến bước đường cùng.

    – Trong đoạn cuối truyện, khi nghe tiếng trống thúc sưu thuế, bà cụ Tứ cũng tuyệt vọng kêu lên rằng: “Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ”.

    * Luận điểm 3: Trân trọng những khát vọng nhân văn của con người

    – Ngợi ca khát vọng sống mãnh liệt của con người: Một mặt ta thấy người vợ nhặt như mất nhân cách trong cảnh đói khổ, nhưng mặt khác đó lại là khát vọng sống mãnh liệt của thị, thị không từ bỏ bất cứ cơ hội nhỏ nhoi nào để được sống tiếp, ngay cả việc theo không người ta về làm vợ.

    – Ở Tràng ta thấy có một khát vọng hạnh phúc chân thành, không phải vì ngờ nghệch mà anh dẫn người vợ nhặt về, sâu thẳm bên trong là khát khao có một gia đình như bao người bình thường khác.

    – Vẻ đẹp của lòng thương người: vì tình thương người chân thành mà Tràng sẵn sàng mời thị ăn dù không dư dả, vì thương người mà bà cụ Tứ chấp nhận người con dâu được nhặt về dù trong cảnh đói khổ.

    – Dù bị đẩy đến bước đường cùng, con người vẫn luôn có niềm tin vào cuộc sống:

    + Người vợ nhặt nhắc đến cảnh đoàn người phá kho thóc để tạo niềm tin cho bà cụ Tứ và Tràng, bà cụ Tứ cũng dự tính những chuyện tương lai, khuyên bảo các con.

    * Luận điểm 4: Chỉ ra lối thoát để con người hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn.

    – Từ câu chuyện phá kho thóc mà người vợ nhặt kể và hình ảnh đám người đói, lá cờ đỏ trong suy nghĩ của Tràng là những dấu hiệu của cuộc cách mạng, khiến người đọc có thể tin tưởng vợ chồng Tràng sẽ có mặt trong đoàn người vùng lên tổng khởi nghĩa.

    => Tư tưởng nhân đạo hướng về quần chúng lao động, khẳng định phẩm chất và sức sống bền bỉ của họ, đặt niềm tin vào những khát vọng bình dị mà chân chính để sống, khát khao tình thương và sự gắn bó, nương tựa vào nhau đã cho họ niềm tin để sống.

    3. Kết bài

    – Khái quát giá trị nhân đạo trong truyện Vợ nhặt

    – Nêu cảm nhận, đánh giá, nhận xét của bản thân.

    Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt chi tiết
    Dàn ý phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt chi tiết

    2. Phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt – mẫu 1

    Năm 1945 đã trở thành dấu ấn lịch sử không thể phai mờ đối với mỗi con người Việt Nam, thời điểm đó không chỉ đánh dấu sự huy hoàng của thắng lợi Việt Nam đánh đổ phát xít, thực dân và lật đổ chế độ phong kiến 1000 năm. Đưa nước ta trở thành một nước tự do dân chủ. Đó còn là giai đoạn ghi nhận những đau thương mất mát của dân tộc ta dưới họa xâm lăng. Sự bóc lột dã man tàn bạo của bọn phát xít thực dân và bọn phong kiến tay sai đã đẩy hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Trong hoàn cảnh ấy nhà văn Kim Lân đã dựng lên một tình huống nhặt được vợ. Tình huống ấy vừa để tố cáo tội ác của bọn bóc lột, vừa thể hiện niềm cảm thông với nỗi đau khổ của con người, vừa bày tỏ niềm tin vào con người: ”dù cuộc sống có đau khổ đến đâu, nhưng con người vẫn thể hiện niềm yêu thương đùm bọc lẫn nhau vẫn không nguôi về khát vọng hạnh phúc, vẫn hướng đến một tương lai tươi sáng”. Đó chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm.

    Trước hết ta phải hiểu giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản trong tác phẩm văn học chân chính, nó được tạo nên bởi tình yêu thương của con người, niềm cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của con người, sự nâng niu trân trọng những nét đẹp của con người hơn thế còn là lòng tin khả năng vươn dậy của nó.

    Tác phẩm “Vợ nhặt” đã bộc lộ được niềm xót xa thương cảm đối với cuộc sống bi đát của người dân nghèo trong nạn đói. Nạn đói được ví như một trận đại hồng thủy có sức tàn phá dữ dội. Những dãy phố úp sụp tối om: “những người đói dật dờ đi lại như những bóng ma”, “không khí vẩn lên mùi ẩm mốc thối của rác rưởi và mùi gây gây của xác người” và đặc biệt hơn là âm thanh của tiếng quạ gào thê thiết. Bằng những hình ảnh đau thương của nạn đói, tác giả đã tố cáo được tội ác của bọn thực dân phát xít cùng bọn phong kiến tay sai. Chúng đã dồn người dân đến mức đường cùng của cuộc sống, làm cho bao người chết trong cảnh đói rách..

    Tác phẩm còn đi sâu khám phá nâng niu trân trọng khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc của con người. Tràng luôn khao khát hanh phúc, ẩn sau hình ảnh người đàn ông thô kệch chỉ biết làm lụng kia là con người cũng khao khát yêu thương. Trong hoàn cảnh kéo xe thóc mà anh vẫn buông lời trêu đùa để làm cho cuộc sống thêm tươi vui, anh đùa có ai đẩy xe cùng thì mời bữa cơm xôi giò. Tưởng chỉ là lời trêu đùa vu vơ mà có cô ra đẩy cùng, sau một hồi ăn hai chập bánh đúc thì người đàn bà ấy theo về làm vợ. Anh cũng nghĩ đến cái đói đang khủng khiếp kia liệu mình có vượt qua được không mà còn thêm cô vợ, nhưng anh “chậc kệ”. Niềm khao khát hạnh phúc khiến anh vượt qua cái đói cái chết sắp tới. Trên đường về nhà khuôn mặt anh vui lạ thường.

    Thậm chí Kim Lân còn đẩy tình huống truyện đến đỉnh điểm khi miêu tả sự ngạc nhiên của Tràng. Bản thân anh cũng không ngờ rằng việc lấy vợ của mình lại dễ dàng đến thế, chỉ có bốn bát bánh đúc mà thành vợ thành chồng. Cho nên khi dẫn vợ về nhà, nhìn thấy vợ giữa nhà Tràng vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Đến bây giờ hắn còn ngờ ngợ không phải ”ra hắn đã có vợ rồi đấy ư…”. Đến sáng hôm sau nhìn thấy ngôi nhà lâu nay đã được thu dọn sạch sẽ bởi bàn tay người vợ. Hắn không hết bàng hoàng ngạc nhiên việc hắn đã có vợ đến hôm nay hắn vẫn ngỡ ngàng như không phải. Điều đó còn được thể hiện ở ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ thể hiện ngay ở nhân vật người vợ nhặt. Chỉ có một câu tầm phơ tầm phào mà cô chấp nhận theo không người đàn ông xa lạ ấy để làm vợ, cô bỏ qua cả ý thức về danh dự và nhân phẩm của bản thân mình.

    Không chỉ vậy mà Kim Lân còn đi sâu vào ý thức vun đắp cho cuộc sống gia đình của từng nhân vật. Với Tràng thì anh đã nhận ra được trách nhiệm và bổn phận của mình với hai người phụ nữ trong gia đình. Còn nhân vật thị thì hôm sau đã hoàn toàn thay đổi trở nên hiền hậu, đúng mực “nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu gọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm, mươi niên ở góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp.

    Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”. Đó là sự thay đổi ngỡ ngàng của thị và quang cảnh nhà sáng hôm sau. Còn bà cụ Tứ thì tạo thêm niềm tin cho các con về những dự định trong tương lai, việc nuôi gà, khuyên răn con ai giàu ba họ ai khó ba đời, có ăn lên làm ra thì con cái sau này mới sung sướng. Và cuối cùng có lẽ tình thương bà dành cho đứa con trai và con dâu được thể hiện rõ nhất ở hình ảnh bát cháo cám. Người mẹ già không có gì trong hoàn cảnh này, bà lật đật chạy xuống bếp với khuôn mặt vui tươi bê nồi cháo cám lên ăn.

    Kim Lân đã thắp lên cho gia đình bà cụ Tứ niềm tin hy vọng vào sự đổi mới. Trong bóng tối đau thương tấm lòng cao đẹp của người mẹ vẫn tỏa sáng. Dẫu biết rằng việc lấy vợ lấy chồng là việc không nên diễn ra vào lúc đói khát như lúc này nhưng bà cụ Tứ vẫn vui vẻ chấp nhận “thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”. Kim Lân đã khéo tìm cho người mẹ già đau khổ ấy một câu nói ẩn chứa sự từng trải của người già, sự bao dung của người mẹ và quan niệm đẹp đẽ của người Việt Nam: “dù có đắng cay cực khổ như thế nào vẫn mừng lòng đón nhận con người, luôn luôn trân trọng con người”.

    Vì vậy lúc nhìn lại người vợ nhặt bà không thấy cô ta xa lạ nữa mà đã trở thành người thân thuộc: “bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi”. Trái tim người mẹ mở rộng đón nhận người phụ nữ xa lạ, đón nhận người ấy là con, là người thân, là con dâu. Bà còn nuôi dưỡng niềm tin hy vọng cho những đứa con: “biết thế nào hả con? Ai giàu ba họ, ai khó ba đời. Có ra thì con cái chúng mày về sau…”. Bà an ủi con dâu: “kể có ra làm dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo cũng chả ai người ta chấp chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”.

    Câu nói tận tình và bao dung của người mẹ đã làm vơi đi bao tủi cực bẽ bàng của người vợ nhặt. Chỉ một câu nói ấy thôi cũng đủ làm cho người phụ nữ Tràng nhặt về có thể ngẩng cao đầu bước vào ngôi nhà này với tư cách là một người vợ, một người con dâu.

    Nếu như trong tác phẩm “Chí Phèo”, ”Lão Hạc” nhân vật chính muốn giữ được nhân phẩm thì phải chết, cái chết đau đớn nhưng làm lòng họ cảm thấy thanh thản hơn. Hay chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố cùng quẫn bởi sưu cao thuế nặng phải bán sữa mình cho ông cụ già 80 tuổi và cái kết là chị chạy ra ngoài trời tối không biết sẽ ra sao…những tác phẩm viết trước cách mạng tháng Tám thường chưa tìm thấy lối thoát cho nhân vật của mình.

    Không những vậy Kim Lân đã thể hiện được niềm tin sâu sắc vào phẩm giá, lòng nhân hậu của con người. Nhân vật Tràng chỉ là một thanh niên làm thuê nuôi mẹ, nhưng sẵn sàng bỏ tiền cho người đàn bà xa lạ bốn bát bánh đúc. Anh độ lượng, bao dung hào phóng và rất chu đáo với mẹ già. Anh sống luôn có tình nghĩa có trách nhiệm. Niềm tin ấy còn được thể hiện ở người vợ nhặt, sự biến đổi từ khi bước vào nhà. Nếu lúc trước người đàn bà này chua chát, chỏm lỏm thì giờ lại hiền hậu cư xử đúng mực lễ phép. Lúc mới gặp bà cụ Tứ thì chào hỏi, e thẹn. Sáng hôm sau thì đảm đang dọn dẹp nhà cửa.

    Đặc biệt trong bữa cơm sáng, mặc dù là bát cháo cám nhưng cô vẫn và vào miệng mặc dù mắt hơi nheo, bởi cô không lỡ làm mất đi niềm vui của người mẹ già khốn khổ kia. Có lẽ thể hiện sâu sắc niềm tin vào cuộc sống phải được thông qua bà cụ Tứ. Bà hết lòng yêu thương con cháu, hết mực cảm thông với nàng dâu trong hoàn cảnh này. Không những thế bà còn trăn trở những tháng ngày tiếp theo đứa con trai và con dâu bà sẽ sống ra sao. Nhưng vượt lên hoàn cảnh ở trước mắt bà vẫn luôn tạo niềm vui trong gia đình bằng những lời khuyên răn.

    Bằng cái nhìn mới mẻ về cuộc sống của người dân sau cách mạng tháng Tám, Kim Lân đã vẽ lên một bức tranh hiện thực về nạn đói và cái chết đầy bi thương của những năm tháng này. Qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc góp phần tạo nên thành công trong tác phẩm. Từ đó ta thấy được chiều sâu so với các tác phẩm văn học hiện thực trước đó.

    3. Phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt – mẫu 2

    Tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân có giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc thông qua tình huống truyện độc đáo đó chính là tình huống nhặt được vợ. Tác giả cho chúng ta thấy cuộc sống tối tăm của người dân lao động trong nạn đói lịch sử năm 1945 và những khát khao mãnh liệt của họ. Giá trị nhân đạo là một giá trị tạo nên thành công của tác phẩm văn học chân chính. Nó tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của tác giả với những nhân vật của mình. Những người nông dân khốn khổ, bần hàn trong cuộc sống.

    Tác phẩm bộc lộ rõ những cảm xúc xót xa đối với kiếp người thê thảm trong nạn đói lịch sử làm chết hai triệu người. Thông qua đó, tác giả muốn tố cáo tội ác của thực dân Pháp đã gây ra nạn đói này làm cho dân ta khốn khổ. Câu chuyện được viết trong một xóm ngụ cư, toàn những người dân tứ xứ về ở chung tập hợp thành một xóm ngụ cư mới, trong sự nghèo khổ đến tận cùng của cảnh vật xung quanh và những nếp nhà lụp sụp.

    Trên con đường về xóm ngụ cư ấy ánh sáng hiện lên vô cùng mờ mịt, leo lét những con người đi lại như những bóng ma. Xác người chết chưa kịp chôn cất nằm ngổn ngang, bên cạnh những người sống vật vờ không có nơi cư trú, mùi xác thối bốc lên, rồi từng bầy quạ đến cứ gào lên thê thiết. Bên cạnh đó văng vẳng là tiếng trống thúc thuế, những đứa trẻ thì ngồi trong những xó đường không buồn nhúc nhích bởi chúng quá đói và mệt mỏi nên không còn sức lực để vui đùa chạy nhảy nữa.

    Trong bối cảnh nghèo đói ấy một người xấu xí như nhân vật Tràng, hai con mắt ti hí, quai hàm bạnh ra, đường nét thô kệch làm nghề kéo xe thuê, nghèo khó sống cảnh mẹ góa con côi lại nhặt được vợ. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn còn thể hiện trong lòng tin sâu sắc vào việc những nhân vật trong tác phẩm tin tưởng vào tương lai, sự đổi đời. Nhân vật anh cu Tràng tuy có vẻ ngoài xấu xí nhưng tiềm ẩn bên trong là sự cảm thông biết thương yêu người khác, che chở giúp đỡ người khác trong cảnh khốn khổ.

    Trong hoàn cảnh nghèo khó nhưng Tràng vẫn hào phóng đãi thị bốn bát bánh đúc, rồi lần sau gặp Tràng cũng quan sát người phụ nữ này dường như thị gầy hơn, cái áo rách tả tơi cắp cái thúng con. Có lẽ từ giây phút đó Tràng đã nổi lên sự trắc ẩn trong lòng, muốn cho người phụ nữ kia nương tựa vào mình cả hai cùng nương tựa vào nhau, để cố gắng qua cơn đói khổ này. Đó chính là sự nhân đạo trong con người Tràng. Trong khi nạn đói đang hoành hành, người chết như ngả rạ, thêm một người là thêm một miệng ăn, nhưng Tràng vẫn sẵn sàng cưu mang thị, đưa thị về nhà cùng chung sống.

    Bà cụ Tứ mẹ của anh cu Tràng cũng là người có tấm lòng nhân văn, nhân đạo. Bà thương yêu con hết mực. Bà cụ Tứ xuất hiện với dáng người đã già cả lưng còng, mắt kèm nhèm, nhìn từ xa bà thấy trong nhà mình có một người phụ nữ bà tưởng mình trông gà hóa cuốc. Nhưng khi lại gần tới nhà thấy người phụ nữ kia chào mình bằng u, rồi nghe anh cu Tràng giới thiệu “Đây là nhà con” thì bà cụ Tứ không còn nghi ngờ gì nữa.

    Bà thoáng chút thương xót cho số phận của mình và con trai, người ta cưới vợ trong lúc ăn nên làm ra, còn mình thì cưới nhau trong lúc nghèo đói, túng quẫn. Nhưng rồi bà lại vui vẻ chấp nhận bà nghĩ rất tích cực “Có gặp hoàn cảnh khốn khó như lúc này thì người ta mới lấy tới con mình, mà con mình mới có vợ”. Bà cụ Tứ nhìn mọi chuyện vô cùng thấu đáo tích cực. Bà thấy nhiều niềm vui hơn là nỗi buồn trong việc anh cu Tràng nhặt được vợ trong thời kỳ đói khổ.

    Chính người mẹ khốn khổ này đã luôn tạo không khí vui vẻ cho gia đình để con trai và con dâu của bà vui vẻ mà cố gắng phấn đấu vượt qua thời kỳ đói khổ này. Người mẹ già khốn khổ ấy luôn miệng động viên con trai con dâu của mình. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, chăm chỉ làm ăn biết đâu nhờ trời thương lại cho khấm khá.

    Sáng hôm sau, gia đình anh cu Tràng từ khi lấy vợ đã thay đổi hẳn nhà cửa gọn gàng, vườn tược được nhổ sạch cỏ, mọi thứ thật sự là một gia đình dù còn nhiều đơn sơ nghèo khó. Nhưng nó vẫn thể hiện đó là một gia đình, đầm ấm sum vầy. Trong bữa cơm gia đình, hình ảnh nồi cháo cám đã ám ảnh người đọc vô cùng, nhưng trong mâm cơm đạm bạc nghèo khổ ấy ai cũng nói tới tương lai, nói tới chuyện vui. Họ cùng nhau hy vọng vào cuộc sống mới.

    Giá trị nhân đạo của tác phẩm làm nên niềm tin cho những con người lao động nghèo khổ, khốn khó. Nó chính là bản năng sống, khát khao được hạnh phúc của mỗi con người. Nó thể hiện sự nhân văn, nhân đạo của tác giả Kim Lân khi đồng cảm với người nông dân, nhân vật của mình.

    4. Phân tích giá trị nhân đạo của Vợ nhặt – mẫu 3

    “Vợ nhặt” là một truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của Kim Lân. Truyện kể về chuyện anh cu Tràng nhà nghèo ở xóm ngụ cư đã nhặt được vợ khi trận đói đang diễn ra kinh khủng, người chết đói đầy đường.

    Truyện ngắn đã phản ánh nỗi đau khổ và niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc của người nghèo, qua đó nói lên số phận con người trong xã hội cũ, cái đêm trước khi cách mạng bùng nổ. Giá trị lớn nhất của truyện “Vợ nhặt” là giá trị nhân đạo.

    Cho đến nay trong nền văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác phẩm nào viết về trận đói năm Ất Dậu – 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân. Cảm hứng nhân đạo dào dạt từ đầu truyện đến cuối truyện.

    Truyện đã phản ánh nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta, của người nghèo trong trận đói năm Ất Dậu. Đoàn người từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau lên “xanh xám như những bóng ma” nằm ngổn ngang khắp các lều chợ. Quạ đen đậu trên những ngọn cây bay vù lên “như những đám mây đen” trên nền trời. Mùi gây của xác người vẩn lên khắp xóm chợ. Người chết đói như ngả rạ. Sáng nào cùng ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường!

    Đói và chết đói đâu chỉ riêng ai! Mẹ con Tràng, cái nhà “vắng teo đứng rúm ró” trên mảnh vườn đầy cỏ dại. Của nhà là một tấm phên rách. Niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. Cơ ngơi ấy đã làm cho nàng dâu mới thất vọng tiếng thở dài”. Bà cụ Tứ “mặt bủng beo u ám”. Anh cu Tràng “bước mệt mỏi”, cái đầu “trọc nhẵn chúi về đằng trước” với bao lo lắng chật vật. Đám trẻ con xóm chợ, trước đây tinh nghịch thế, giờ đây chúng nó “ngồi ủ rủ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích”. Trước nhà kho trên tỉnh có mấy chị con gái “ngồi vêu ra”.

    Đặc biệt nhân vật “thị”, cái đói đã cướp đi tất cả. Không họ tên, tuổi tác, không gia đình, anh em. Không quê hương bản quán. Hình hài tiều tụy, xơ xác đáng thương. Áo quần “tả tơi như tổ đỉa”. Thị “gầy sọp hẳn đi”, khuôn mặt lưỡi cày “xám xịt”, chỉ còn thấy hai con mắt. Con đường phía trước của thị là vực thẳm, là chết đói. Cái đói đã cướp đi của thị tất cả. Chị nghe Tràng nói “muốn ăn gì thì ăn”, thấy anh ta vỗ vỗ vào túi khoe “rích bố cu”, hai con mắt “trũng hoáy” của thị tức thì “sáng lên”. Tình tiết thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc, trông có vẻ thô lỗ, nhưng không đáng chê, trái lại rất đáng thương. Thị đang đói, thị đã nhịn đói nhiều ngày, thị cần được ăn, thị cần được sống. Kim Lân rất nhân hậu khi nói về thị, khi nói về sự đói khát của người nghèo.

    Cái xóm ngụ cư càng về chiều “càng xơ xác, heo hút” nhà cửa “úp súp, tối om”, những khuôn mặt “hốc hác u tối”. Bữa cơm đón nàng dâu mới của bà cụ Tứ là một nồi cháo cám. Người con gái giữa trận đói như một thứ vứt đi, có thể “nhặt” được. Thị lấy chồng không một quả cau, không một lá trầu, chẳng có “quan tám tiền cheo, quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau”. Về nhà chồng, đứng trước mẹ chồng, nàng dâu mới “khép nép”, “cúi mặt xuống tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Tối tân hôn, “tiếng khóc tỉ tê” của những gia đình có người mới chết đói vọng đến thô thiết não nùng.

    Sáng tinh mơ tiếng trống thúc thuế dội lên từng hồi “dồn dập, vội vã”. Bằng những chi tiết rất hiện thực, rất điển hình, Kim Lân đã thể hiện tình cảm xót thương, lo âu cho số phận của người nghèo khổ trước hoạn nạn, trước nạn đói đang hoành hành. Đáng quý hơn nữa, ông đã đứng về phía nhân dân, về phía người nghèo vạch trần và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp bắt nhổ lúa trồng đay, bắt đóng thuế, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, gây ra trận đói năm Ất Dậu làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

    Truyện “Vợ nhặt” đã biểu lộ một tấm lòng trân trọng đối với hạnh phúc của con người. Cách kể của Kim Lân rất hóm hỉnh về tình huống anh cu Tràng nhặt vợ và những tình tiết xoay quanh nàng dâu mới. Chỉ một vài câu “tầm phơ tầm phào”, Tràng đãi thị 4 bát bánh đúc thế mà hắn nhặt được vợ! Nhặt được vợ nhưng hắn cũng phải liều: “Chặc, kệ!”. Hắn nghĩ thóc gạo này nuôi thân còn khó, lại còn “đèo bòng”. Trên đường dẫn vợ mới nhặt được về nhà xin phép mẹ già, anh cu Tràng vui như mở cờ trong bụng. Kim Lân tả đôi mắt và nụ cười của anh con trai cục mịch này để làm nổi bật niềm hạnh phúc mới nhặt được vợ. Tràng “phởn phơ khác thường”. Hắn “tủm tỉm cười nụ”. Hai mắt “sáng lên lấp lánh”. Có lúc cái mặt hắn “cứ vênh lên tự đắc với mình”.

    Hình ảnh Tràng và thị đi bên nhau trông “hay đáo để”. Tràng khoe hai hào dầu, rồi cười hì hì, bị thị “phát đánh đét” vào lưng với câu mắng yêu: “Khỉ gió”. Tràng nghển cổ thổi tắt phụt ngọn đèn con, bị thị mắng: “Chỉ được cái thế là nhanh. Dơ!”. Những tình tiết ấy rất hay nói lên tình yêu mạnh hơn cái chết.

    Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật vô cùng cảm động. Vượt qua phong tục tập quán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ thương người đàn bà xa lạ, thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: “Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Tình thương của bà mênh mông, bà nghĩ “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. Bà dịu dàng yêu thương gọi nàng dâu mới là “con”. Lòng đầy thương xót, bà nói với hai con: “Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá…”.

    Qua đó, ta càng hiểu sâu hơn cái lẽ đời. Nhân dân lao động nghèo khổ đứng trước tai hoạ, họ đã dựa vào nhau, san sẻ tình thương, san sẻ vật chất cho nhau để vượt qua mọi thử thách, hướng tới ngày mai với niềm tin và hi vọng: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời…”. Người đọc cảm thấy ngọn đèn “vàng đục” chiếu sáng trong mái lều đêm tân hôn của vợ chồng Tràng là ngọn đèn hi vọng và hạnh phúc ấm no.

    Bữa cháo cám đón nàng dâu mới là một chi tiết mang giá trị nhân đạo tiêu biểu nhất trong truyện “Vợ nhặt”. Bà cụ Tứ gọi là “chè khoán… ngon đáo để”. Bà tự hào nói với hai con là “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Trong bữa cháo cám, bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này. Cảnh gia đình mẹ con vô cùng “đầm ấm hòa hợp” hạnh phúc. Sau này, vợ chồng con cái Tràng có thể có những bữa cơm nhiều thịt cá ngon lành hơn, nhưng họ không bao giờ có thể quên được bữa cháo cám buổi sáng hôm ấy.

    Vị cháo cám “đắng chát” mà lại ngọt ngào chứa đựng bao tình thương của mẹ. Kim Lân sống gần gũi người nhà quê, ông hiểu sâu sắc tâm lí, tình cảm của họ. Ông đã làm cho những thế hệ mai hậu biết cái đắng chát trong cuộc đời của ông cha, cảm nhận được cái hương đời, cái tình thương của lòng mẹ,… mà không một thứ cao lương mĩ vị nào có thể sánh tày?

    Kim Lân đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất, nồng hậu nhất về sự đổi đời của người dân cày Việt Nam. Mừng cho anh cu Tràng có vợ, bọn trẻ con tinh nghịch reo lên: “Chông vợ hài”. Việc Tràng có vợ, dân ngụ cư xóm chợ cảm thấy “có một cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ”. Bà cụ Tứ vui sướng vì con trai đã có vợ, bà như trẻ lại, nhẹ nhõm, tươi tỉnh “rạng rỡ hẳn lên”. Vợ Tràng trở thành người đàn bà “hiền hậu đúng mực”. Tràng như từ một giấc mộng bước ra. Anh ngủ dậy cảm thấy “êm ái lửng lơ”. Hạnh phúc đến quá bất ngờ. Việc hắn có vợ sau một ngày một đêm mà hắn “vẫn ngỡ ngàng như không phải”.

    Sự đổi đời còn được thể hiện ở cảnh vật. Mẹ và vợ Tràng đã dậy sớm, quét tước thu dọn lại nhà cửa, sân ngõ. Tiếng chổi quét sàn sạt. Hai cái ang nước được kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã được hót sạch. Mẹ chồng, nàng dâu mới, con trai, ai cũng muốn góp phần sửa sang tổ ấm gia đình hạnh phúc. Họ không nghĩ đến cái chết mà hướng về sự sống, về hạnh phúc và sự đổi đời. Tràng cảm thấy hắn đã “nên người”, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này!

    Một chi tiết rất hay là vợ Tràng sau khi nghe tiếng trống thúc thuế đã báo tin ở mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không nộp thuế, người ta phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Còn anh cu Tràng thấy trong óc mình “lá cờ đỏ bay phấp phới”. Cách mạng sắp đến. Nạn đói sẽ bị đẩy lùi. Hình ảnh lá cờ đỏ cuối truyện không chỉ tô đậm giá trị nhân đạo mà còn tạo nên âm hưởng lạc quan đầy chấn động, như một dự cảm về ngày mai ấm no, hạnh phúc.

    Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn mằn nhưng đáng quý và đáng trân trọng biết bao! Cổ kim đông tây đã có ai nhặt được vợ? Cái đói do bọn Nhật, Pháp gây ra đã cướp đi tất cả tính mạng và phẩm giá con người. Một sự thật được khẳng định: niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc, khao khát sống mạnh hơn cái chết. Cái vị đời ngọt ngào và tình người ấm áp đã tỏa sáng giá trị nhân đạo truyện “Vợ nhặt” mà ta trân trọng.

     

  • Sơ đồ tư duy các tác phẩm văn học 9

    Sơ đồ tư duy các tác phẩm văn học 9

    Nhằm mục đích giúp học sinh dễ dàng hệ thống hóa được kiến thức, nội dung các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 9, chúng tôi biên soạn bài viết Sơ đồ tư duy chi tiết với đầy đủ các nội dung như tìm hiểu chung về tác phẩm, tác giả, bố cục, dàn ý phân tích, bài văn mẫu phân tích, …. Hi vọng qua Sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh nắm được nội dung cơ bản của các tác phẩm

    BẢN XEM TRƯỚC

    Xem thêm một số bài viết nổi bật khác:

    1. Tặng tài khoản lưu trữ miễn phí 1 TB (1024GB) và office 365 online 

    2. Tặng tài khoản zoom không giới 40 phút

    3. Giáo án (KHBD) lớp 6 mới các môn

    4. Tập huấn các module giáo dục theo chương trình GDPT 2018

    5. Sáng kiến kinh nghiệm và biện pháp thi GVDG

    6. Các chuyên đề bồi dưỡng HSG

  • Góp ý sách giáo khoa Ngữ văn 7 sách Chân trời sáng tạo

    Góp ý sách giáo khoa Ngữ văn 7 sách Chân trời sáng tạo

    Mẫu 1

    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    PHIẾU GÓP Ý BẢN MẪU SÁCH GIÁO KHOA LỚP 7
    MÔN: Ngữ Văn

    Bộ Chân trời sáng tạo.

    Tên bài Trang/dòng Nội dung hiện tại Đề nghị chỉnh sửa Lí do đề xuất
    Bài 2 Tr 36 -Tên gọi văn bản 2: Những tình huống hiểm nghèo.

     

     

     

    – Viết: Yêu cầu viết một sự việc có liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.

    – Những tình huống nguy hiểm

     

     

     

     

     

    – Yêu cầu viết một sự việc, nhân vật đã được học

    – Từ hiểm nghèo thường nói về bệnh tật nhiều hơn là những tình huống trong cuộc sống.

     

    – Chủ đề 2 “Bài học cuộc sống” (Truyện ngụ ngôn) nên phần yêu cầu viết một sự việc có liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử là chưa phù hợp.

    Bài 4 Tr 86 Câu 1,3 Thực hành Tiếng Việt Nội dung câu hỏi 1,3 không thuộc phần Thực hành Tiếng Việt Nội dung câu hỏi 1,3 thuộc phân môn Làm Văn
    Bài 5 Tr 107 Thuật ngữ Yêu cầu cao đối với học sinh lớp 7

    – Phần Tiếng Việt: Trong chương trình Ngữ Văn 7 không còn mảng văn học cổ, nhưng phần Tiếng Việt có phần về từ Hán Việt. Như vậy sẽ gây khó khăn cho học sinh trong quá trình tìm hiểu.

    – Phần Tập làm văn đưa phần nghị luận văn học vào chương trình lớp 7 không mang tính vừa sức.

    ……, ngày….. tháng…. năm 2021

    Trưởng nhóm

    Mẫu 2

    Phụ lục 2.
    PHIẾU GÓP Ý BẢN MẪU SÁCH GIÁO KHOA LỚP 7
    MÔN: NGỮ VĂN
    SÁCH CHÂN TRỜI SÁNG TẠO

    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    Tên bài Trang/dòng Nội dung hiện tại Đề nghị chỉnh sửa Lí do đề xuất
    Bài 1- Tiếng nói của vạn vật, phần

    hướng dẫn quy trình viết

    Trang 26/dòng 26, 27, 28 Viết đoạn văn khoảng 200 chữ Viết đoạn văn khoảng 100 chữ

     

    Qúa cao so với học sinh lớp 7
    Bài 2 Bài học cuộc sống, phần sử dụng và thưởng thức những cách nói thú vị, hài hước trong khi nói và nghe Trang 52, dòng 26, 27, 28, 29, 30 Ví dụ chơi chữ – Sử dụng từ đồng âm khác nghĩa Cho ví dụ khác Không thấy có từ đồng âm khác nghĩa.
    Bài 5 – Mùa thu về Trùng Khánh nghe hạt dẻ hát ( Y Phương), phần chú thích Trang 108, dòng cuối nhái: hàng nhái… nhái: hàng giả, giả mạo tránh giải thích có từ nhái
    Bài 7- Trí tuệ dân gian Trang 28, dòng 4 bút sa gà chết – Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.

    – Trẻ cậy cha già cậy con

    bút sa gà chết là thành ngữ, không phải tục ngữ.

    Người góp ý

     

    Link tải tài liệu module 9: Tải về
    Link tải sản phẩm mô tả: Tải về
    Link tải KHDH môn Toán: Tải về

    Link tải KHDH môn KHTN: Tải về

    Tham khảo các module khác Tại đây

    Xem thêm một số bài viết nổi bật khác:

    1. Tặng tài khoản lưu trữ miễn phí 1 TB (1024GB) và office 365 online 

    2. Tặng tài khoản zoom không giới 40 phút

    3. Giáo án lớp 6 mới các môn

    4. Tập huấn các module giáo dục theo chương trình GDPT 2018